Giải trình tự toàn bộ gen caga và đặc điểm protein caga ở năm mẫu helicobacter pylori trên bệnh nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma

Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma Chủng Helicobacter pylori (H.pylori) mang gen cagA có khả năng gây tổn thương viêm teo và ung thư thư dạ dày cao hơn so với chủng không mang gen cagA. Mục tiêu: Tiến hành giải trình tự toàn bộ gen cagA và bước đầu phân tích, phân loại protein CagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bao gồm 5 mẫu H.pylori ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh. H.pylori được nuôi cấy và làm PCR để xác định trước khi tiến hành giải trình tự gen toàn bộ. Phân tích và xây dựng cây phân loại sinh học bằng các chương trình xử lý sinh học. Kết quả: chiều dài chức năng gen cagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam 3480 - 3588 nucleotid, số lượng amino acid tương ứng trên phân tử protein CagA 1159 - 1195 amino acids. Tất cả các phân tử protein CagA đều thuộc loại Đông Á. Tuy cùng thuộc loại protein CagA đông Á, chủng H.pylori ở bệnh nhân Nhật Bản và Việt Nam thuộc về hai nhóm khác nhau trên cây phân loại sinh học. Kết luận: nghiên cứu bước đầu cho thấy H.pylori protein CagA ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc loại đông Á.

Xem chi tiết

Giám sát một số bệnh lây truyền qua đường tình dục gắn với giám sát HIV trên nhóm dân cư có hành vi nguy cơ cao tại 5 tỉnh/thành phố

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng, Phạm Thị Lan

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá tỷ lệ hiện mắc nhiễm trùng lây truyền qua đường tình dục (STI) bao gồm cả HIV trên nhóm dân cư có hành vi nguy cơ cao tại 5 tỉnh/thành phố tại Việt Nam năm 2003. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm có hành vi nguy cơ cao có tỷ lệ hiện mắc HIV rất cao: nhóm nghiện chích ma túy là 38,7% (cao nhất ở Quảng Ninh 56,0% và TP Hồ Chí Minh 51,1%), gái mại dâm là 6,7%, bệnh nhân STI là 4,0%. Tỷ lệ hiện mắc giang mai ở nhóm gái mại dâm là cao nhất 2,9%, bệnh nhân STI và nghiện chích ma túy lần lượt là 2,2% và 1,0%. Bệnh lậu có tỷ lệ hiện mắc thấp, cao nhất nhóm bệnh nhân STI 3,5%, gái mại dâm 2,9% và nghiện chích ma túy 0,8%. Nhiễm Chlamydia có tỷ lệ nhiễm cao hơn lậu, gái mại dâm là 4,3%, bệnh nhân STI 2,1% và nghiện chích ma túy 1,3%. Kết luận: tỷ lệ hiện mắc HIV cao ở nhóm bệnh nhân đến khám STI, nghiện chích ma túy và gái mại dâm.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tác dụng lợi mật và chống viêm của curcuminoid trên thực nghiệm

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Mai Anh, Vũ Thị Ngọc Thanh, Nguyễn Thị Tuyết Mai

Curcuminoid – bioflavonoid chiết xuất từ củ nghệ vàng - đã được chứng minh có tác dụng bảo vệ gan trên thực nghiệm. Mục tiêu: Đánh giá tác dụng lợi mật và tác dụng chống viêm (cấp và mạn) của curcuminoid. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: (1) Đánh giá tác dụng lợi mật thông qua xác định trọng lượng dịch mật trong túi mật (2) Đánh giá tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù chân chuột bằng carrageenin và tác dụng chống viêm mạn thông qua ức chế sự tạo thành u hạt thực nghiệm. Kết quả: Curcuminoid liều 60mg/kg và 120mg/kg có tác dụng lợi mật trên chuột nhắt trắng, độ lợi mật đạt 62,28 - 72,01%. Curcuminoid liều 70mg/kg và 140mg/kg có tác dụng chống viêm cấp và mạn trên chuột cống trắng, ức chế phản ứng phù 21,47 - 42,43%, ức chế sự tạo thành u hạt 43,65 - 46,38%. Kết luận: Curcuminoid có tác dụng lợi mật, chống viêm cấp và chống viêm mạn trên thực nghiệm.

Xem chi tiết

Tác dụng của Polyphenol chè xanh (Camellia sinensis) trên sự rối loạn chuyển hoá lipid ở chuột cống trắng gây đái tháo đường thực nghiệm

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Thị Chi Mai, Nguyễn Thị Hà, Phạm Thiện Ngọc

Đái tháo đường là một bệnh rối loạn chuyển hoá mạn tính. Các bất thường về lipid huyết tương là một trong những nguy cơ hàng đầu gây vữa xơ động mạch và biến chứng mạch máu ở bệnh nhân đái tháo đường. Chè xanh là một thảo dược tốt cho sức khoẻ con người và trong điều trị một số trạng thái bệnh lý. Mối liên quan giữa sự tiêu thụ chè xanh với hàm lượng lipid huyết tương đã được khảo sát bởi các nhà khoa học ở Nhật Bản, Trung Quốc… Nghiên cứu này nhằm tìm hiểu tác dụng của polyphenol chè xanh trong việc cải thiện những rối loạn lipid huyết tương ở chuột cống trắng gây đái tháo đường thực nghiệm. Kết quả đã chứng minh polyphenol chè xanh có tác dụng: 1. Giảm nồng độ TG, LDL-C, tỷ lệ HDL-C/LDL-C trong huyết tương. 2. Liều bắt đầu có tác dụng của polyphenol chè xanh là 100mg/kg/ngày và thể hiện rõ rệt với liều 200mg/kg/ngày.

Xem chi tiết

Cấp cứu Ngoại khoa Tập 1 (Sau Đại Học) – Bộ Y Tế

Chủ biên: GS. Đặng Hanh Đệ

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2010

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Cấp cứu ngoại khoa luôn là một vấn đề thời sự không những của các phẫu thuật viên mà còn của tất cả những ai làm công tác lâm sàng. Trong thế kỷ trước Nhà xuất bản Y học đã xuất bản cuốn Cấp cứu Ngoại khoa, nhưng trải qua nhiều năm với những tiến bộ nhanh chóng của y học nói chung cũng như sự phát triển của ngành Ngoại khoa nói riêng, cuốn sách đó không còn cập nhật nữa. Chúng tôi biên soạn lại lần này nhằm trước hết phục vụ cho công tác đào tạo (đại học và sau đại học trong các trường Đại học Y) và sau đó là các đồng nghiệp ở các tuyến y tế trong cả nước. Những người tham gia biên soạn đều là các cán bộ giảng dạy trong Bộ môn Ngoại trường Đại học Y Hà Nội với nhiều năm giảng dạy và phẫu thuật tại các bệnh viện lớn (Việt Đức, Bạch Mai, Saint Paul), thuộc đúng chuyên khoa của mình. Vì thế chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ đáp ứng được yêu cầu của các đồng nghiệp.

Xem chi tiết

Cấp cứu Ngoại khoa Tập 2 (Sau Đại Học) – Bộ Y Tế

Chủ biên: GS. Đặng Hanh Đệ

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2010

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Cấp cứu ngoại khoa luôn là một vấn đề thời sự không những của các phẫu thuật viên mà còn của tất cả những ai làm công tác lâm sàng. Trong thế kỷ trước Nhà xuất bản Y học đã xuất bản cuốn Cấp cứu Ngoại khoa, nhưng trải qua nhiều năm với những tiến bộ nhanh chóng của y học nói chung cũng như sự phát triển của ngành Ngoại khoa nói riêng, cuốn sách đó không còn cập nhật nữa. Chúng tôi biên soạn lại lần này nhằm trước hết phục vụ cho công tác đào tạo (đại học và sau đại học trong các trường Đại học Y) và sau đó là các đồng nghiệp ở các tuyến y tế trong cả nước. Những người tham gia biên soạn đều là các cán bộ giảng dạy trong Bộ môn Ngoại trường Đại học Y Hà Nội với nhiều năm giảng dạy và phẫu thuật tại các bệnh viện lớn (Việt Đức, Bạch Mai, Saint Paul), thuộc đúng chuyên khoa của mình. Vì thế chúng tôi hy vọng cuốn sách sẽ đáp ứng được yêu cầu của các đồng nghiệp.

Xem chi tiết

Giá trị của điện tim trong chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Bùi Hải, Đỗ Doãn Lợi, Nguyễn Đạt Anh

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định giá trị của các dấu hiệu điện tim trong chẩn đoán tắc động mạch phổi. Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên các bệnh nhân nghi ngờ tắc động mạch phổi cấp (TĐMP) từ tháng 12 năm 2006 đến tháng 3 năm 2012 tại bệnh viện Bạch Mai. Nghiên cứu đã thu thập được 141 trường hợp, với 57/141 (40,4%) bị tắc động mạch phổi. Trong đó, thay đổi điện tim ở bệnh nhân tắc động mạch phổi cấp bao gồm dấu hiệu S1Q3T3: 28,1%, nhịp nhanh xoang (> 100 ck/phút): 26,3%, T âm V1 - 3: 5,3% và nhịp bình thường: 36,8%. Dấu hiệu S1Q3T3 chẩn đoán tắc động mạch phổi cấp có độ nhạy: 28%, độ đặc hiệu: 92,9%, giá trị chẩn đoán dương tính: 72,7%, giá trị chẩn đoán âm tính: 65,6% và OR: 5,1. Sự khác biệt về tỷ lệ S1Q3T3 ở hai nhóm tắc động mạch phổi cấp huyết động không ổn định và ổn định không có ý nghĩa thống kê. Thay đổi điện tim thường gặp nhất ở bệnh nhân tắc động mạch phổi là S1Q3T3, nhịp nhanh xoang, T âm V1 - 3. Dấu hiệu S1Q3T3 có ý nghĩa trong chẩn đoán tắc động mạch phổi. Dấu hiệu S1Q3T3 chưa chứng minh được vai trò tiên lượng rối loạn huyết động ở bệnh nhân tắc động mạch phổi.

Xem chi tiết

Biến đổi đơn độc một nucleonid tại codon 10 (rs1982073:t869c) của gen tgfb1 có liên quan với tăng nguy cơ bị bệnh thận Iga

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.0

Tác giả: Vương Tuyết Mai, Leonid Padyukov

Mục tiêu chung về nghiên cứu căn nguyên các bệnh thường gặp thường hướng tập trung chủ yếu là tìm hiểu các yếu tố di truyền, trong đó một số marker di truyền về gen có thể đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển của bệnh thận IgA. Chúng tôi nghiên cứu sự liên quan giữa điểm biến đối gen đơn độc một nucleotide (SNP), rs1982073, thuộc gen TGFB1 và bệnh thận IgA. Kết quả cho thấy, tỷ lệ phần trăm của SNP lựa chọn, rs1982073, đã được tìm thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân và nhóm chứng trong kiểu gen ở mô hình đồng phối hợp gen (không trội lặn) với p ≤ 0,004. Đặc biệt có ý nghĩa là sự chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mô hình allelic với p ≤ 0,02 ở mức 10 5 thử nghiệm hoán vị. Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng điểm biến đổi của rs1982073: T869C thuộc TGFB1 gen có liên quan với sự phát triển của bệnh thận IgA. Trong tương lai, cần nhiều hơn những nghiên cứu về gen TGFB1 trong nguyên nhân dẫn đến bệnh thận IgA.

Xem chi tiết

Biến đổi đơn độc một NUCLEONID tại CODON 10 (rs1982073:T869C) của gen TGFB1 có liên quan với tăng nguy cơ bị bệnh thận IgA.

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Vương Tuyết Mai , Leonid Padyukov

Trong mục tiêu chung về nghiên cứu căn nguyên các bệnh thường gặp thì hướng tập trung chủ yếu là tìm hiểu các yếu tố di truyền, trong đó một số marker di truyền về gen có thể đóng vai trò quan trọng vào sự phát triển của bệnh thận IgA. Chúng tôi nghiên cứu sự liên quan giữa điểm biến đối gen đơn độc một nucleotide (SNP), rs1982073, thuộc gen TGFB1 và bệnh thận IgA. Kết quả cho thấy, tỷ lệ phần trăm của SNP lựa chọn, rs1982073, đã được tìm thấy có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa nhóm bệnh nhân và nhóm chứng trong kiểu gen ở mô hình đồng phối hợp gen (không trội lặn) với P ≤ 0,004. Đặc biệt có ý nghĩa là sự chứng minh có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê trong mô hình allelic với P ≤ 0,02 ở mức 105 thử nghiệm hoán vị. Kết quả của chúng tôi cho thấy rằng điểm biến đổi của rs1982073: T869C thuộc TGFB1 gen có liên quan với sự phát triển của bệnh thận IgA. Trong tương lai, cần nhiều hơn những nghiên cứu về gen TGFB1 trong nguyên nhân dẫn đến bệnh thận IgA.

Xem chi tiết