Những yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp trong thời kỳ có thai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Ngô Văn Tài

Tăng huyết áp (THA) trong thời kỳ có thai gây ra nhiều biến chứng cho thai phụ và thai nhi. Việc nghiên cứu những yếu tố nguy cơ của bệnh sẽ góp phần vào việc tiên lượng những biến chứng sẽ xảy ra cho thai phụ và thai nhi. Trong nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 8 năm 2003 (từ 320 thai phụ có THA) tại Viện BVBMTSS, cho kết quả như sau: Những yếu tố nguy cơ cho thai phụ và thai nhi gồm: Huyết áp tâm thu (HATT) ≥160 mmHg; Huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg; Protêin niệu≥ 3g/l; phù nặng; Protid toàn phần huyết thanh ≤ 40 g/l; u rê huyết thanh > 6,6 mmol/l; Crêatinin huyết thanh > 106 µmol/l; S.GOT≥70 UI/l; SGPT ≥70 UI/l; Số lượng tiểu cầu < 100000/mm3 máu; Acid uric > 400 µmol/l. Những biến chứng cho thai phụ gồm: chảy máu (3,1%); phù phổi (0%); rau bong non (4%); suy gan (1,9%); suy thận (4,4%); tử vong (0%); sản giật (12,5%). Những biến chứng thai nhi gồm: cân nặng <2500g (51,5%); đẻ non (36,3%); chết lưu (5,3%); chết sau đẻ (6,9%).

Xem chi tiết

Xác định nồng độ Homocysteine huyết tương trên bệnh nhân có hội chứng sa sút trí tuệ

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn

51 người không mắc chứng sa sút trí tuệ và 41 bệnh nhân sa sút trí tuệ được xét nghiệm trong nghiên cứu của chúng tôi. Nồng độ homocystein huyết thanh được xác định bởi kỹ thuật miễn dịch hoá phát quang trực tiếp (CMIA). Các xét nghiệm khác được thực hiện theo quy trình chuẩn thông thường. Nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân sa sút trí tuệ là 11,78 ± 4,31µmol/L tăng cao hơn so với nhóm không sa sút trí tuệ (7,34 ± 2,10µmol/L)., có sự khác biệt với p < 0,05. Nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân sa sút trí tuệ tương quan với nồng độ glucose huyết với r = 0; p < 0,01. Sự tăng nồng độ homocystein huyết là nguy cơ của sa sút trí tuệ.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS. TS. NGUYỄN DUY HUỀ

Tên tác giả: LƯU CÔNG THÀNH

U bao thần inh (Neurinoma) là một hối u xuất phát từ tế bào Schwann của bao thần inh ngoại biên, nó còn được gọi là Schwannoma, Neurilemmoma hay hối u tế bào Schwann. Chiếm tỷ lệ 47% trong tất cả các u tủ sống, thường là lành tính, phát triển chậm, đôi hi ác tính hóa (<1%) thì được gọi là "Malignant schwannoma" hay "Neurosarcoma" [1], [2]. Trong những năm gần đ o sự phát triển của học hiện đại, đặc biệt là ứng ụng má cộng hưởng từ trong chẩn đoán nên u bao thần inh cột sống đã được phát hiện sớm và điều trị ịp thời góp phần n ng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Do sự phát triển của hoa học công nghệ, đến na đã có nhiều phương pháp cận l m sàng giúp cho xác định u bao thần inh cột sống như chụp cột sống thường, chụp tủ cản quang (Myelography), chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ (CHT). Tuy nhiên, CHT có những ưu thế đặc biệt, với độ ph n giải phần mềm cao, hông bị các nhiễu o xương, có thể cắt được trên nhiều mặt phẳng hác nhau, đã trở thành phương pháp gần như hông thể thiếu trong thăm hám các hối u của cột sống. Trong những năm gần đ , đã có một số tác giả nghiên cứu ph n loại u bao thần inh cột sống, nhưng chưa đánh giá đầ đủ bản chất, thành phần bên trong hối u. Việc ứng ụng CHT có từ lực cao cho hình ảnh rõ nét, chi tiết các tổn thương, nhiều chuỗi xung mới được áp ụng, mở ra triển vọng phát hiện sớm và cho phép đánh giá bản chất thành phần bên trong hối u, nên nó là cơ sở để thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống”.

Với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống.
2. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống.

Xem chi tiết

Kết quả điều trị hoá chất bằng phác đồ MP trên bệnh nhân đa u tuỷ xương cao tuổi tại khoa huyết học truyền máu - bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6

Tác giả: Vũ Minh Phương, Phạm Hồng Dương

Mục tiêu: Nghiên cứu một số thay đổi lâm sàng và xét nghiệm ở bệnh nhân đa u tuỷ xương cao tuổi sau điều trị bằng phác đồ MP. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 25 bệnh nhân ở Khoa Huyết học - truyền máu bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán đa u tuỷ xương và điều trị phác đồ MP. Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu giảm từ 88% xuống 55% sau đợt điều trị thứ 3, tỷ lệ đau xương giảm từ 80% xuống 52% sau đợt điều trị thứ 2, Hb tăng từ 74,1 ± 29,7 g/l lên 114,9 ± 19,7 g/l sau đợt điều trị thứ 3, Protein máu toàn phần, Globulin và Ig bệnh lý, Creatinin đều giảm sau các đợt điều trị thứ 3 và thứ 4, tỷ lệ bệnh nhân có can xi > 2,6 mmol/l giảm từ 20% xuống 0% sau đợt điều trị thứ 4, tỷ lệ bệnh nhân có tổn thương xương trên phim XQ giảm từ 80% xuống 52% sau đợt điều trị thứ 2. Kết luận: Phác đồ MP có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân đa u tuỷ xương cao tuổi: Bệnh nhân sau điều trị giảm thiếu máu, đau xương, tăng lượng Hb, các xét nghiệm protein máu toàn phần, globulin, Ig bệnh lý và creatinin, tổn thương xương trên XQ đều giảm.

Xem chi tiết

Đánh giá tính an toàn của vắc xin Cervarix phòng ung thư cổ tử cung trên phụ nữ tình nguyện Việt Nam

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Văn Phủng, Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Thị Vân Anh, Nguyễn Công Viên, Nguyễn Thuỷ An, Hans L Bock

Mục tiêu: đánh giá sự xuất hiện các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng xảy ra trong 7 tháng sau khi tiêm vắc xin Cervarix ở phụ nữ trong độ tuổi 25 - 40. Đánh giá sự xuất hiện các tác dụng không mong muốn tại chỗ và toàn thân trong 30 ngày sau mỗi mũi tiêm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng, mở, không có nhóm chứng, trên 208 phụ nữ có chồng, khoẻ mạnh, từ 25 - 40 tuổi, theo phác đồ tiêm 0, 1, 6 tháng nhằm đánh giá tính an toàn của vắc xin phòng ung thư cổ tử cung do công ty GlaxoSmithKline (GSK) Biologicals - Bỉ sản xuất. Kết quả: không có đối tượng nào có các tác dụng không mong muốn nghiêm trọng xảy ra trong quá trình nghiên cứu; Các tác dụng không mong muốn tại chỗ và toàn thân hầu hết ở mức độ nhẹ các triệu chứng tại chỗ chủ yếu là đỏ, sưng, đau với tỷ lệ tương ứng là 35,6%, 33,7% và 63,5%; Phản ứng toàn thân hay gặp nhất là mệt mỏi với tỷ lệ 30,7% tiếp theo là đau đầu (17,2%) và đau cơ (13,5%); Các phản ứng sốt, đau khớp, hội chứng dạ dày ruột, mày đay gặp với tỷ lệ tương ứng là 6,6%; 3,7%; 0,8%; 0,4%. Kết luận: nghiên cứu đã chỉ ra rằng vắc xin ung thư cổ tử cung của GSK đã được an toàn ở phụ nữ Việt Nam tuổi từ 25 - 40.

Xem chi tiết

Chỉ định và kết quả ban đầu ghép thận từ người cho chết não

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Long, Lê Nguyên Vũ, Lê Đình Thanh Sơn, Nguyễn Tiến Quyết

Ghép thận từ người cho chết não đã được thực hiện thành công tại Việt Nam. Từ tháng 5 năm 2010 đến tháng 9 năm 2013, tại bệnh viện Việt Đức, chúng tôi đã tiến hành ghép 34 thận lấy từ 17 người cho chết não gồm: 14 nam và 3 nữ có tuổi từ 17 đến 45 tuổi. Thời gian vào viện đến khi chẩn đoán chết não trung bình là 48 giờ. Creatinine máu người cho là 59 - 61 µmol/l. Bệnh nhân nhận thận bao gồm: 22 suy thận do viêm cầu thận, 6 do tăng huyết áp, 2 do nhiễm độc thai nghén và 4 do nguyên nhân khác. Có 6 cặp bệnh nhân không trùng cặp HLA nào (0/6), có 3 cặp trùng nhiều nhất được 4 locus (4/6). 34 trường hợp đều ghép thận vào hố chậu phải. 1 trường hợp ghép thận và tim đồng thời. Kết quả sau ghép có 1 trường hợp tử vong, 3 trường hợp thận chậm chức năng phải chạy thận nhân tạo hỗ trợ. 2 bệnh nhân nhận thận có viêm gan C nhưng nồng độ virus cho phép. Diễn biến sau mổ của các bệnh nhân ghép thận từ người cho chết não còn lại cũng tương tự như ở bệnh nhân ghép thận từ người cho sống. Thời gian nằm viện trung bình: 10,93 ± 2,27 ngày. Không có khác biệt về tình trạng chức năng thận ghép ở bệnh nhân nhận thận có mức độ hòa hợp HLA khác nhau. Việc lựa chọn bệnh nhân ghép lấy từ người cho chết não là một hướng đi đúng đắn nhưng cần chỉ định chọn lọc và chặt chẽ để bảo tồn chức năng thận ghép được dài hạn.

Xem chi tiết