Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tình trạng albumin máu và ảnh h¬ưởng của giảm albumin máu ở bệnh nhi tại khoa Điều trị tích cực bệnh viện Nhi trung ương

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hồng Tuấn Hòa, Phạm Văn Thắng

Nghiên cứu mô tả tiến cứu 146 bệnh nhi tại khoa ĐTTC bệnh viện Nhi TW từ 02/2004 - 07/2004 về các chỉ tiêu cận lâm sàng: albumin máu, điện giải đồ, khí máu và huyết học vào thời điểm lúc nhập viện và sau khoảng 24 giờ. Khoảng trống ion âm (bao gồm kali), kiềm dư dịch ngoại bào, bicarbonate chuẩn, canxi huyết thanh được tính toán và điều chỉnh theo albumin máu. Tần suất giảm albumin máu lúc nhập viện là 56,2%; tỷ lệ tử vong nhóm giảm albumin máu là 56,1%, sự khác biệt về tỷ lệ tử vong của hai nhóm giảm và không giảm albumin máu chưa thấy có ý nghĩa thống kê. Sau khi điều chỉnh theo albumin tỷ lệ của khoảng trống ion âm tăng ( > 18 mmol/l) tăng từ 32,3% lên 46,0% (n = 189); toan chuyển hóa có khoảng trống ion âm tăng từ 62,0% lên 77,2% (n = 79). Mặt khác, cũng sau khi điều chỉnh theo albumin thì tỷ lệ canxi toàn phần huyết thanh >= 2 mmol/l tăng từ 51,2% lên 69,3% (n = 215).

Xem chi tiết

Hiệu quả tiêu thụ bột mỳ/mỳ tôm tăng cường 5 loại vi chất đến tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu acidfolic trên đối tượng công nhân nữ bị thiếu máu

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Xuân Ninh, Phạm Thị Thúy Hòa

Mục tiêu: Nghiên cứu hiệu quả tiêu thụ bột mỳ/mỳ tôm tăng cường 5 loại vi chất đến tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm, thiếu acid folic trên đối tượng công nhân nữ bị thiếu máu. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 148 đối tượng công nhân nữ, bị thiếu máu (Hb < 120g/L) được chia ngẫu nhiên ra 3 nhóm: Nhóm chứng (CTR, n = 49), được nhận viên sắt/folic theo phác đồ dự phòng hàng tuần (2 viên/tuần); nhóm sắt 1(ELEC, n = 49): ăn mỳ tôm, chế biến từ bột mỳ tăng cường 5 loại vi chất, trong đó chất sắt sử dụng dưới dạng Electrolytic; Nhóm sắt 2 (FUMA, n = 50): đối tượng được ăn mỳ tôm, chế biến từ bột mỳ tăng cường 5 loại vi chất, trong đó chất sắt sử dụng dưới dạng Fumarate. Nhóm sắt 1 và sắt 2 được ăn 100g mỳ tôm hàng ngày vào buổi sáng, trong 6 tháng. Nhóm 1 nhận thuốc hàng tuần tại phòng y tế của nhà máy. Các chỉ số xét nghiệm, nhân trắc được thực hiện khi bắt đầu và kết thúc nghiên cứu. Kết quả: Tiêu thụ mỳ tôm có vi chất trong thời gian 6 tháng đã làm tăng ý nghĩa (p < 0,01) nồng độ Hb (tăng 6,4 - 11,7g/L), kẽm thuyết thanh 14,2 - 18 mg/dL); làm giảm rõ rệt tỷ lệ thiếu máu thiếu sắt (giảm 60,5 - 65,9%), tỷ lệ thiếu kẽm (giảm 9,1 - 11,6%); tuy nhiên chưa rõ hiệu quả cải thiện tình trạng folate. Bột mỳ tăng cường sắt Fumarate có hiệu quả tốt hơn so với tăng cường sắt Electrolytic trong việc cải thiện tình trạng sắt và kẽm. Bổ sung viên sắt/folat hàng tuần cải thiện tốt hơn về tính trạng sắt và folate so với hai nhóm ăn bột mỳ, tuy nhiên không hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu kẽm. Kết luận, khuyến nghị: Sử dụng bột mỳ có tăng cường vi chất theo khuyến nghị của Bộ Y Tế là biện pháp có hiệu quả cao cải thiện tình trạng thiếu máu, thiếu kẽm hiện nay. Trong chiến lược tăng cường vi chất vào bột mỳ ở Việt Nam, nên chọn sắt Fumarate, có thể tăng nồng độ Folate lên cao hơn, phù hợp khuyến nghị mới của WHO 2009.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống

Chuyên ngành: Chẩn đoán hình ảnh

Tên hướng dẫn: PGS. TS. NGUYỄN DUY HUỀ

Tên tác giả: LƯU CÔNG THÀNH

U bao thần inh (Neurinoma) là một hối u xuất phát từ tế bào Schwann của bao thần inh ngoại biên, nó còn được gọi là Schwannoma, Neurilemmoma hay hối u tế bào Schwann. Chiếm tỷ lệ 47% trong tất cả các u tủ sống, thường là lành tính, phát triển chậm, đôi hi ác tính hóa (<1%) thì được gọi là "Malignant schwannoma" hay "Neurosarcoma" [1], [2]. Trong những năm gần đ o sự phát triển của học hiện đại, đặc biệt là ứng ụng má cộng hưởng từ trong chẩn đoán nên u bao thần inh cột sống đã được phát hiện sớm và điều trị ịp thời góp phần n ng cao chất lượng cuộc sống cho người bệnh. Do sự phát triển của hoa học công nghệ, đến na đã có nhiều phương pháp cận l m sàng giúp cho xác định u bao thần inh cột sống như chụp cột sống thường, chụp tủ cản quang (Myelography), chụp cắt lớp vi tính (CLVT), chụp cộng hưởng từ (CHT). Tuy nhiên, CHT có những ưu thế đặc biệt, với độ ph n giải phần mềm cao, hông bị các nhiễu o xương, có thể cắt được trên nhiều mặt phẳng hác nhau, đã trở thành phương pháp gần như hông thể thiếu trong thăm hám các hối u của cột sống. Trong những năm gần đ , đã có một số tác giả nghiên cứu ph n loại u bao thần inh cột sống, nhưng chưa đánh giá đầ đủ bản chất, thành phần bên trong hối u. Việc ứng ụng CHT có từ lực cao cho hình ảnh rõ nét, chi tiết các tổn thương, nhiều chuỗi xung mới được áp ụng, mở ra triển vọng phát hiện sớm và cho phép đánh giá bản chất thành phần bên trong hối u, nên nó là cơ sở để thực hiện đề tài “Nghiên cứu đặc điểm và giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống”.

Với mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm hình ảnh của chụp cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống.
2. Đánh giá giá trị của cộng hưởng từ trong chẩn đoán Neurinoma cột sống.

Xem chi tiết

Đánh giá thực trạng và hiệu quả can thiệp bằng truyền thông và uống viên sắt cho phụ nữ có thai thiếu máu người dân tộc Sán dìu tại huyện Đồng Hỷ - Thái nguyên.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Tạ Quốc Bản, Lê Minh Chính

Thiếu máu ở phụ nữ có thai (PNCT), trong đó phổ biến là tình trạng thiếu máu dinh dưỡng, có tầm quan trọng đối với sức khỏe cộng đồng. Có nhiều chương trình chăm sóc và phòng chống thiếu máu dinh dưỡng, tuy nhiên, các vấn đề mang tính đặc thù của người dân tộc thiểu số, như người Sán Dìu chưa được đề cập tới. Bởi vậy, đề tài này đã được thực hiện, với mục tiêu: mô tả thực trạng thiếu máu của phụ nữ có thai người dân tộc Sán Dìu, xây dựng và đánh giá hiệu qủa mô hình can thiệp phòng chống thiếu máu cho phụ nữ có thai người dân tộc Sán Dìu, ở một số xã miền núi huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: PNCT, bà mẹ nuôi con bú (BMNCB), phụ nữ có chồng có 1 con, chưa có con tuổi 15 - 49 là dân tộc Sán Dìu. Nghiên cứu mô tả và can thiệp cộng đồng. Cỡ mẫu mô tả: n = 1384 Mẫu can thiệp n = 325. Các chỉ số nghiên cứu là tỷ lệ KAP đạt và không đạt về vệ sinh môi trường (VSMT), dinh dưỡng hợp lý (DDHL), phòng chống thiếu máu (PCTM), tỷ lệ thiếu máu (Hb < 110g/l), giá trị năng lượng... Can thiệp 18 tháng: 01/04/2007 - 9/2008 tại xã Nam Hòa, xã Linh Sơn đối chứng. Kết quả: tỷ lệ PNCT có SLHC < 3,5triệu là 40,93%, có 54,42% và 68,37% PNCT với Hb và MCH ở mức thiếu máu nhược sắc, ferritn < 30mg/l là 42,79%, nhiễm giun móc 47,91%. Kiến thức, thái độ và thực hành về VSMT, DDHL và PCTM của phụ nữ tuổi sinh đẻ huyện Đồng Hỷ còn thấp, các điểm không đạt còn ở mức cao. Nghiên cứu xây dựng mô hình can thiệp "Giáo dục PCTM phụ nữ Sán Dìu". Bản chất mô hình là Truyền thông-Giáo dục sức khỏe (TT - GDSK) cho PNCT. Nòng cốt của mô hình là các trưởng xóm, nhân viên y tế thôn bản (NVYTTB) và cộng tác viên dân số (CTVDS). Sau 18 tháng can thiệp, đã hoàn thành 7 đợt hoạt động với 11 nội dung, gồm: TT - GDSK, phát tờ rơi, trưng bầy Pano, làm vệ sinh hộ gia đình và đường làng, giao lưu văn hóa văn nghệ, cấp viên sắt và thuốc tẩy giun... Mô hình can thiệp ở xã Nam Hoà đã nâng cao được kiến thức, thái độ và thực hành của phụ nữ tuổi sinh đẻ, các chỉ số hiệu quả can thiệp có kết quả rõ rệt. Giá trị năng lượng và các chất dinh dưỡng trước can thiệp còn ở mức thiếu đói. Sau 18 tháng can thiệp, giá trị năng lượng khẩu phần và các chất dinh dưỡng đã tăng lên rõ rệt. Tỷ lệ thiếu máu ở PNCT giảm 30,7%, Hb tăng 10,9g/l. Giun móc (+) giảm 17,27%. Đào tạo tăng cường năng lực cán bộ thôn xóm: bộ 3 "trưởng xóm, NVYTTB và CTVDS". Xây dựng, củng cố và tổ chức lại hoạt đông của bộ 3 “trưởng xóm, NVYTTB và CTVDS”. Mô hình là một công trình nghiên cứu đặc thù dành cho người dân tộc thiểu số miền núi, đó là mô hình dành cho người Sán Dìu và do người Sán Dìu thực hiện. Kết luận: mô hình đã làm thay đổi KAP về VSMT, DDHL và PCTM của phụ nữ Sán Dìu xã Nam Hòa, cải thiện năng lượng và dinh dưỡng khẩu phần, đã làm giảm 30,7% tỷ lệ thiếu máu. Các vùng dân tộc thiểu số miền núi có thể tham khảo ứng dụng mô hình này.

Xem chi tiết

Assessing and improving utilisation and provision of antibiotics and other drugs in Vietnam

Tác giả: Mattias Larsson

"Background: In Vietnam there were shortages of drugs until the end of the 1980’s. In 1986 the ”Doi Moi” economic reforms towards market economy were initiated. An expanding private health care sector emerged and the per capita drug consumption has increased dramatically. Aim: To assess drug provision in the public and private sectors, antibiotic use and resistance in the community, as well as the effect of an intervention package aimed at improving case management in private pharmacies in Vietnam. Methods: Drug utilization was assessed in 6 provinces using 2400 prescriptions, 1200 drugs, 200 interviews with doctors and 200 medical records (I). Community antibiotic use and bacterial resistance was assessed among 200 children 1-5 years of age in the rural Bavi district using a questionnaire and disc diffusion tests (II). Antibiotic prescribing was assessed in relation to serum levels of C-reactive protein among 100 children 1-6 years who received antibiotic treatment (III). A randomized control trial assessed the effect of an intervention package (enforcement of regulation, education and peer influence) on case management of childhood mild respiratory infection, male sexually transmitted disease and dispensing of prescription only drugs (antibiotics and steroids) in 60 private pharmacies in Hanoi. Knowledge was assessed through interviews with a structured questionnaire pre and post intervention and practice through simulated client method with five encounters per pharmacy after each intervention (IV, V & VI). Results: Essential drugs were available in remote areas. The average number of drugs per prescription was high and injections were common (I). In Bavi 75% of the children had been treated with antibiotics within one month preceding the study, most commonly ampicillin, penicillin or amoxicillin. Of the carers deciding on treatment 67% consulted a drug seller, 22% a doctor and 11% decided themselves. Of the antibiotics 80% were purchased from private drug outlets. Of S. pneumoniae and, H. influenzae 90% and 68% were resistant to at least one antibiotic, respectively (88% and 32% to tetracycline, 32% and 44% to trimethoprim/sulphonamide and 25% and 24% to chloramphenicol, respectively). There was a significant difference in ampicillin and penicillin resistance between the group of children previously treated with beta lactam antibiotics and the group of children not having received antibiotics (II). Elevated CRP concentrations (>10 mg/L) were detected in only 17% of the children who had received antibiotic prescription (III). Of the pharmacy staff 20% stated that they would dispense antibiotics for a child with cough, in practice 83% of the pharmacies did. Fifty-three percent stated that they would ask the patient questions related to breathing, in practice 10% did; Eighty one percent stated that antibiotics are not effective in short courses, in practice 47% dispensed for courses less than 5 days. Only 36% of the cases were handled according to guidelines (IV). Compliance with the prescription regulation was weak. Sixty percent said that they would not dispense steroids without prescription. In practice all but one pharmacy did (V). The intervention pharmacies improved significantly compared to the control pharmacies in all tracer conditions. For mild respiratory infections, antibiotic dispensing decreased and questions regarding rapid breathing increased. For sexually transmitted diseases, advice to go to the doctor and dispensing the correct symptomatic treatment increased. Dispensing of prednisolone and cephalexin decreased and prescription requests increased (VI). Conclusion: Considering the common practice of self-medication with antibiotics through private pharmacies and high levels of antibiotic resistance there is a need to improve drug utilization and provision in Vietnam. Promoting Good Pharmacy Practice standards towards improving case management in private pharmacies is likely to have a major public health impact.

Xem chi tiết

Bolognia Dermatology, 3rd Edition

Chủ biên: Jean L. Bolognia

Nhà xuất bản: ELSEVIER, Saunders

Năm xuất bản: 2012

Ngôn ngữ: English

Dermatology, edited by world authorities Jean L. Bolognia, MD, Joseph L. Jorizzo, MD, and Julie V. Schaffer, MD, is an all-encompassing medical reference book that puts the latest practices in dermatologic diagnosis and treatment at your fingertips. It delivers more comprehensive coverage of basic science, clinical practice, pediatric dermatology, and dermatologic surgery than you’ll find in any other source. Whether you’re a resident or an experienced practitioner, you’ll have the in-depth, expert, up-to-the-minute answers you need to overcome any challenge you face in practice.

Xem chi tiết

Bolognia Dermatology Essentials, 1e

Chủ biên: Jean L. Bolognia

Nhà xuất bản: ELSEVIER, Saunders

Năm xuất bản: 2014

Ngôn ngữ: English

Dermatology Essentials, edited by world authorities Drs. Jean L. Bolognia, Julie V. Schaffer, Karynne O. Duncan, and Christine J. Ko, provides the quick answers you need on every important aspect of dermatology and guidance on their application in your day-to-day practice. Derived from the renowned authoritative reference work Dermatology, 3rd Edition, this on-the-go reference distills the essential information needed to quickly diagnose and manage a wide range of dermatologic disorders-without the need for any additional resources.

Xem chi tiết

Giá trị của các yếu tố sàng lọc trong chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ duchenne

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Băng Sương, Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn

Loạn dưỡng cơ Duchenne (Duchenne Muscular Dystrophy - DMD) l bệnh thần kinh cơ do di truyền. Chẩn đốn trước sinh gip pht hiện cc thai nhi bất thường l vấn đề ưu tin do chưa cĩ biện php điều trị đặc hiệu. Cc yếu tố sng lọc đĩng vai trị rất quan trọng trong chẩn đốn trước sinh. Mục tiu: phn tích gi trị của một số yếu tố sng lọc trong chẩn đốn trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne. Đối tượng v phương php nghin cứu: phn tích DNA của 30 người mẹ cĩ con mắc bệnh DMD (do đột biến xĩa đoạn gen dystro- phin) để pht hiện kiểu gen dị hợp tử đồng thời phn tích phả hệ v xc định hoạt độ creatin kinase (CK) của cc người mẹ. Kết quả: 15 người mẹ cĩ kiểu gen dị hợp tử (chiếm 50%), trong đĩ gồm 5 người cĩ tiền sử gia đình (16,7%). 1/3 người mẹ mang gen bệnh cĩ hoạt độ CK bình thường. Kết luận: phản ứng phn tích gen l yếu tố cơ bản, gi trị nhất để tiến hnh sng lọc cc thai phụ trong chẩn đốn trước sinh bệnh DMD. Loạn dưỡng cơ Duchenne, người mang gen bệnh Nguyễn Thị Băng Sương, Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn Loạn dưỡng cơ Duchenne (Duchenne Muscular Dystrophy - DMD) là bệnh thần kinh cơ do di truyền. Chẩn đoán trước sinh giúp phát hiện các thai nhi bất thường là vấn đề ưu tiên do chưa có biện pháp điều trị đặc hiệu. Các yếu tố sàng lọc đóng vai trò rất quan trọng trong chẩn đoán trước sinh. Mục tiêu: phân tích giá trị của một số yếu tố sàng lọc trong chẩn đoán trước sinh bệnh loạn dưỡng cơ Duchenne. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phân tích DNA của 30 người mẹ có con mắc bệnh DMD (do đột biến xóa đoạn gen dystro- phin) để phát hiện kiểu gen dị hợp tử đồng thời phân tích phả hệ và xác định hoạt độ creatin kinase (CK) của các người mẹ. Kết quả: 15 người mẹ có kiểu gen dị hợp tử (chiếm 50%), trong đó gồm 5 người có tiền sử gia đình (16,7%). 1/3 người mẹ mang gen bệnh có hoạt độ CK bình thường. Kết luận: phản ứng phân tích gen là yếu tố cơ bản, giá trị nhất để tiến hành sàng lọc các thai phụ trong chẩn đoán trước sinh bệnh DMD.

Xem chi tiết