Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 01

Tác giả: Nguyễn Xuân Hợi

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG và tỷ lệ có thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm và đánh giá các yếu tố liên quan đến tăng nồng độ progesterone, phân tích liên quan tương tác của nồng độ progesterone và các yếu tố khác đến tỷ lệ có thai lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu trên 1395 trường hợp IVF/ICSI được thực hiện tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2012. Tuổi ≤ 38; FSH ≤ 10 IU/L; chuyển phôi ngày 2 – 3; phcs đồ dài, ngắn và antagonist. Loại trừ các trường hợp cho hận noãn; các trường hợp PESA/ICSI. Kết quả cho thấy nồng độ progesterone trung bình cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm không có thai (0,88 ± 0,77 so với 0,76 ± 0,65). Khi progesterone tăng > 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai thấp hơn có ý nghĩa thống ke so với nồng độ progesterone ≤ 1,5 (21,6% so với 30,7%). Tỷ lệ progesterone tăng > 1,5 ng/ml trong kích thích buồng trứng là 9%. Với ngưỡng progesterone ≤ 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai lâm sàng cao hơn 1,63 lần và tỷ lệ làm tổ cao hơn 1,53 lần so với ngưỡng progesterone > 1,5 ng/ml. Progesterone tăng vào ngày tiêm hCG liên quan đến tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn

Xem chi tiết

Các yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai lâm sàng và tỷ lệ làm tổ trong hỗ trợ sinh sản

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Xuân Hợi, Phan Trường Duyệt

Đánh giá tỷ lệ thai lâm sàng và các yếu tố liên quan đến tỷ lệ thai lâm sàng. Đánh giá tỷ lệ làm tổ của phôi và các yếu tố liên quan đến tỷ lệ làm tổ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu gồm 294 bệnh nhân thực hiện thụ tinh trong ống nghiệm (IVF)/ tiêm tinh trùng vào bào tương của noãn (ICSI) với phác đồ dài tại trung tâm hỗ trợ sinh sản bệnh viện Phụ Sản Trung ương. Kết quả: Tỷ lệ thai lâm sàng/chuyển phôi là 35,9%. Tỷ lệ làm tổ là 15,4%. Độ dày niêm mạc tử cung > 8 mm liên quan có ý nghĩa thống kê với tỷ lệ thai lâm sàng (OR = 3,0; 95% CI = 1,1 - 8,7) và tỷ lệ làm tổ của phôi (OR = 2,1; 95% CI = 1,1 - 4,7). Hàm lượng progesterone # 2 nmol/l thì tỷ lệ thai lâm sàng cao hơn (OR = 1,8; 95% CI = 1,1 - 3,2) và tỷ lệ làm tổ cũng cao hơn có ý nghĩa thống kê (OR = 1,7; 95% CI = 1,2 - 2,6). Chất lượng phôi tốt (phôi độ 3) cũng là yếu tố liên quan với tỷ lệ thai lâm sàng (OR = 3,2; 95% CI = 1,5 - 7,2) và tỷ lệ làm tổ (OR = 1,7; 95% CI = 1,0 - 3,0). Kết luận: Ba yếu tố là độ dày niêm mạc tử cung, hàm lượng progesterone ngày tiêm hCG và chất lượng phôi đều có liên quan có ý nghĩa thống kê tỷ lệ thai lâm sàng và tỷ lệ làm tổ. Do vậy những can thiệp vào ba yếu tố này có thể làm tăng tỷ lệ thành công của hỗ trợ sinh sản.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng của piperin tới hiệu lực của các thuốc khác the impact of piperin on the effect of other drug

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Hoàng Tích Huyền

Khái quát về hồ tiêu: Hồ tiêu (Piper nigrum L., Hạt tiêu), họ Hồ tiêu (Piperaceae) Hồ tiêu là cây gia vị, vừa là cây làm thuốc, được trồng ở miền Tây Nam Bộ, Phú Quốc, Côn Đảo, Tây Nguyên và Quảng Trị. Bộ phận dùng: Hồ tiêu đen, hồ tiêu sọ (hồ tiêu trắng). giáng hóa thuốc (phản ứng pha I, như phản ứng oxy hóa thuốc qua xúc tác của cytochrom P450). Piperin trong hạt tiêu còn tham gia vào phản ứng pha II (phản ứng liên hợp). Kết quả của tác động của piperin trên hai pha này là làm tăng tích lũy các thuốc và TPCN phối hợp, giúp đào thải chậm, làm tăng hiệu lực, có khi tăng độc tính. Ví dụ về tương tác giữa piperin trong hạt tiêu với các thuốc khác: *

Xem chi tiết

Đánh giá tác dụng của viên nang Brishamin trong điều trị hỗ trợ bệnh nhân HIV/AIDS

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 1

Tác giả: Đỗ Thị Phương, Lê Thị Minh Phương

Sâu chit, một loại dược liệu quý ở khu vực miền núi phía Bắc Việt Nam và được YHCT coi là “Đông trùng hạ thảo nam”. Viên nang BRISHAMIN có thành phần là bột khô sâu chit, do bệnh viện YHCT quân đội sản xuất. Nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu: (1) Đánh giá tác dụng nâng cao thể trạng và phục hồi miễn dịch của viên nang BRISHAMIN trong hỗ trợ điều trị bệnh nhân HIV/AIDS chưa có chỉ định ARV. (2) Khảo sát tác dụng không mong muốn của BRISHAMIN. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng mù kép, có đối chứng placebo. Đối tượng nghiên cứu gồm 70 người nhiễm HIV/AIDS trong danh sách quản lý của hai Trung tâm Y tế Đông Anh và Hoàng Mai - Hà Nội, chưa có chỉ định điều trị ARV, sinh hoạt trong các nhóm đồng đẳng người nhiễm HIV của hai Trung tâm Y tế trên, tự nguyện nghiên cứu. Bệnh nhân được chia thành 2 nhóm, nhóm nghiên cứu gồm 35 bệnh nhân dùng viên nang BRISHAMIN, nhóm chứng gồm 35 bệnh nhân được uống giả dược, liều trình điều trị là 3 tháng. Kết quả: sau 3 tháng điều trị, nhóm bệnh nhân dùng BRISHAMIN tăng cân nặng trung bình với mức 1,11 ± 1,86 kg, cải thiện điểm suy nhược Bugard - Crocq trung bình 4,44 ± 6,81 điểm, cải thiện phân loại lâm sàng với tỷ lệ tốt đạt 57,14%, nồng độ trung bình protein máu và albumim máu tăng 3,41 ± 7,04 g/l và 3,58 ± 9,7 g/l, số lượng tế bào TCD4 với tăng trung bình là 15,59 ± 95,98 tế bào/mm3. Các chỉ số này đều cải thiện ở mức có ý nghĩa thống kê so với thời điểm trước điều trị và cao hơn rõ rệt so với nhóm chứng (p < 0,05). BRISHAMIN không gây tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng với liều dùng 10 viên/ngày tương đương với hàm lượng 2,5g bột khô sâu chít/ ngày trong quá trình điều trị liên tục 3 tháng. Kết luận: BRISHAMIN (thành phần là bột khô sâu chít) có tác dụng nâng cao thể trạng và tăng cường miễn dịch trong điều trị hỗ trợ bênh nhân HIV/AIDS. Thuốc không có tác dụng không mong muốn.

Xem chi tiết

Hiệu quả của sài hồ sơ can thang trong điều trị viêm gan do rượu

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Phạm Thị Hiền, Trần Ngọc Ánh, Nguyễn Nhược Kim

Sài hồ sơ can thang là vị thuốc chủ trị các chứng can khí uất kết đã được dùng từ lâu trong y học cổ truyền. Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả và tác dụng phụ của sài hồ sơ can thang ở bệnh nhân viêm gan rượu mức độ vừa (Maddrey < 32). 60 bệnh nhân viêm gan rượu được sử dụng 300ml sài hồ sơ can thang/ngày trong 2 tháng. Các xét nghiệm đánh giá chức năng gan, Maddrey được theo dõi sau 4, 8 tuần. Sài hồ sơ can thang có tác dụng cải thiện chức năng gan. AST, ALT, GGT, bilirubin máu trước điều trị: 199,27 ± 79,79 UI/L, 77,78 ± 39,9 UI/L; 733,38 ± 486,92 UI/L; 41,67 ± 34,0 μmol/L giảm rõ rệt ở tuần thứ 8: 51,97 ± 16,13; 77,78 ± 39,9; 287 ± 197,79; 25,88 ± 23,17. Sau 2 tháng Maddrey giảm nhanh > 5 điểm ở 26/60, 1-5 điểm ở 41/60, không thay đổi ở 3/60 bệnh nhân. Sài hồ sơ can thang làm giảm rõ rệt Maddrey ở tuần thứ 8 với mức giảm 4,03 ± 2,88 điểm. Sài hồ sơ can thang không làm thay đổi chức năng thận ở nhóm nghiên cứu. Với tác dụng làm cải thiện chức năng gan, giảm rõ rệt Maddrey, Sài hồ sơ can thang cho thấy có hiệu quả ở bệnh nhân viêm gan rượu.

Xem chi tiết