TELBIVUDINE MỘT DẪN CHẤT TƯ门NG TỰ NUCLEOSIDE MỚI DƯỢC THONG QUA DIỀU TRỊ VIEM GAN B MẠN TINH

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Bùi Xuân Trường

Khoảng 5% dân số thế giới (gần 400 triệu người) nhiễm virus viêm gan B mạn tính (HBV: hepatitis B virus), tính theo chiều dọc thời gian sống tỷ lệ nguy cơ triển triển thành xơ gan vào khoảng 15% đến 40% số người nhiễm HBV mạn tính, tử vong do suy gan hay các biến chứng khác của xơ gan hoặc ung thư gan là vấn đề mang tính toàn cầu. Trên thế giới, mỗi năm có thêm khoảng 0,5 triệu trường hợp ung thư gan mắc mới, virus viêm gan B là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan, đặc biệt thuộc khu vực tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam).

Xem chi tiết

Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan b, virus viêm gan c, đồng nhiễm virus viêm gan b/c và kiểu gen của virus viêm gan b thuộc khu vực biên giới việt - trung huyện bát xát tỉnh lao cai

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Nguyễn Văn Bàng

Mục tiêu: nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HBV, HCV và đồng nhiễm HBV/HCV tại huyện Bát Xát, Lào Cai. Phân loại kiểu gen của HBV trên mẫu nghiên cứu nhằm góp phần xây dựng bản đồ kiểu gen của HBV tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 683 đối tượng từ năm dân tộc khác nhau. Xác định nhiễm HCV bằng ELISA, HBV bằng ELISA và Lumipulse - fort. Định lượng nồng độ HBV - DNA bằng real - time PCR, phân loại kiểu gen của HBV bằng cây phân loại sinh học ở 26 đối tượng. Kết quả: tỷ lệ HBsAg dương tính trong quần thể nghiên cứu 15,7%, cao nhất ở dân tộc Kinh 22,8%, thấp nhất ở dân tộc Giáy 13,5% và Tày 10,2%. Tỷ lệ nhiễm HCV 6,6%, thấp nhất ở dân tộc Kinh 0%, cao nhất ở dân tộc Mông 9,7%. Tỷ lệ đồng nhiễm HBV/HCV 1,3% và tỷ lệ IgG anti - HBc dương tính 82,1%. Tỷ lệ kiểu gen B 54% và kiểu gen C 46%. Kết luận: tỷ lệ HBsAg dương tính ở huyện Bát Xát, Lào Cai cao ở tất cả các dân tộc. Phần lớn dân cư huyện Bát Xát đều có tiền sử nhiễm HBV, hai kiểu gen cơ bản của HBV là kiểu gen B và kiểu gen C. Tỷ lệ nhiễm HCV ở mức độ trung bình và không đồng đều giữa các dân tộc.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị xơ cứng bì khu trú bằng uống methotrexat và bôi tacrolimus

Chuyên ngành: Da liễu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Trần Lan Anh

Tên tác giả: PHẠM BÍCH NGỌC

Xơ cứng bì là bệnh thuộc nhóm bệnh tổ chức liên kết tự miễn, bệnh được chia thành 2 nhóm là xơ cứng bì hệ thống (ảnh hưởng đến nhiều cơ quan) và xơ cứng bì khu trú (ảnh hưởng đến da). Xơ cứng bì khu trú (XCBKT) là bệnh da tự miễn ít gặp. Bệnh biểu hiện quá trình viêm đặc biệt, tổn thương chủ yếu ở trung bì và m dưới da, đ i khi ảnh hưởng đến cân, cơ và xương bên dưới. Cả xơ cứng bì khu trú và xơ cứng bì hệ thống đều có: thay đổi các mạch máu nhỏ, thâm nhập viêm và quá trình xơ hóa. Khác với xơ cứng bì hệ thống (XCBHT), XCBKT hiếm gặp các biểu hiện như hiện tượng Raynaud, xơ cứng đầu ngón, biểu hiện tiêu hóa và h hấp. XCBKT ít ảnh hưởng đến tính mạng nhưng ảnh hưởng nhiều đến chất lượng cuộc sống, tàn tật [1]. Khoảng 10% bệnh nhân XCBKT có tổn thương gây biến dạng, co cứng đáng kể hoặc làm giảm sự tăng trưởng, gây khó khăn trong các hoạt động cá nhân [2].
Căn nguyên và cơ chế bệnh sinh của XCBKT còn chưa rõ. Cho đến nay, các nghiên cứu về XCBKT cho thấy bệnh tổn thương nội m mạch máu với phản ứng viêm và hoạt hóa hệ miễn dịch, dẫn tới tăng tổng hợp collagen và các protein của lưới ngoại bào [3]. Biểu hiện lâm sàng của bệnh có hai giai đoạn là viêm (mảng đỏ hoặc tím, bề mặt nhẵn, có viền xung quanh) và xơ, teo (màu trắng ngà, mảng xơ cứng, teo) [4].
Hiện nay điều trị XCBKT còn nhiều khó khăn và chưa thống nhất. Điều trị kh ng chỉ nh m cải thiện tổn thương da, giải quyết thẩm mỹ mà còn giúp phòng tránh các biến chứng. Có nhiều phương pháp điều trị tại chỗ và toàn thân được áp dụng như bôi tacrolimus, corticoid tại chỗ, corticoid toàn thân, methotrexat... Gần đây, methotrexat (MTX) được chỉ ra là có hiệu quả và an toàn trong điều trị XCBKT ở cả người lớn và trẻ em [5], [6], [7], [8]. MTX đơn độc
12
hoặc phối hợp với corticoid còn có tác dụng thuyên giảm bệnh thời gian dài [9], [10], [11], [12]. Vì vậy, MTX là thuốc được chấp nhận và sử dụng rộng rãi nhất trong điều trị XCBKT. Một nghiên cứu gần đây cho thấy hầu hết các bác sỹ nhi khoa ở Nam Mỹ sử dụng MTX để điều trị cho bệnh nhân XCBKT [13]. Ở Việt Nam, chưa có một nghiên cứu nào về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả điều trị của MTX trong XCBKT.
Vì vậy, chúng t i tiến hành đề tài: “Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả điều trị xơ cứng bì khu trú bằng uống methotrexat và bôi tacrolimus ” với hai mục tiêu:
1. Khảo sát một số yếu tố liên quan, đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh xơ cứng bì khu trú tại Bệnh viện Da liễu Trung Ương từ 01/2014-09/2015
2. Đánh giá hiệu quả điều trị bệnh xơ cứng bì khu trú bằng uống methotrexat và bôi tacrolimus

Xem chi tiết

Xác định tỷ lệ nhiễm hp và vi rut viêm gan b,c,a, của người dân một số khu vực hải phòng

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Thị Vựng, Trần Hồng Vân, Nguyễn Ngọc Hùng, Đỗ Doãn Lợi và cộng sự

Mở đầu: Xét nghiệm tình trạng nhiễm HP và vi rút viêm gan B, A, C có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa các bệnh mạn tính và ung thư. Mục tiêu: xác định tỷ lệ nhiễm HP, vi rut viêm gan A,B,C và mô tả một số yếu tố lây truyền vi rut viêm gan B của người dân khu vực Hải Phòng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang nghiên cứu trên 541 người tuổi từ 18 – 60 tuổi thuộc khu vực Hải phòng. Kết quả: tỷ lệ nhiễm HBV cấp có khả năng lây nhiễm là 7,9%. Tỷ lệ nhiễm HBV tự nhiên đã qua giai đoạn viêm cấp: 24,8%. Tỷ lệ người đã được bảo vệ với vi rút HBV do tiêm phòng vác xin hoặc do nhiễm HBV tự nhiên 30%. Tỷ lệ người thâm nhiễm với viêm gan C là 0,92%. Tỷ lệ người thâm nhiễm vi rút viêm gan A là 92,2%. Tỷ lệ người thâm nhiễm với vi khuẩn HP chiếm 69,9%. Tỷ lệ lây truyền HBV ở các đối tượng đang bị viêm gan cấp chiếm 72%, nguồn lây nhiễm từ vợ chồng với nhau và lây nhiễm từ bố mẹ sang con. Kết luận: tỷ lệ có HBsAg (+): 8,1%, tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan C: 0,92%; tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan A: 92,2%. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn HP: 69,9%. Lây truyền vi rút viêm gan B qua đường tình dục hoặc từ mẹ sang con chiếm 72%.

Xem chi tiết

Phân tích đột biến gen GALNS trong chẩn đoán trước sinh bệnh Morquio A

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Vũ Chí Dũng, Khu Thị Khánh Dung, Shunji Tomatsu

Bệnh Morquio A hay Mucopolysaccharidosis IVA (MPS IVA) là bệnh di truyền lặn nhiễm sắc thể thường do thiếu hụt enzym N - acetylgalactosamine - 6 - sulfate sulfatase (GALNS) của lysosome, việc chẩn đoán trước sinh cho các gia đình có nguy cơ cao sinh con bị bệnh là cần thiết. Mục tiêu: chẩn đoán trước sinh MPS IVA cho phụ nữ mang thai mà tiền sử đã có con mắc bệnh MPS IVA bằng phương pháp phân tích đột biến gen GALNS. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phân tích đột biến gen GALNS từ tế bào gai rau trước và sau nuôi cấy. Phân tích sequence trực tiếp bằng các primers đặc hiệu. Đo hoạt độ enzym GALNS của tế bào gai rau nuôi cấy một phụ nữ mang thai lần thứ 3 và thứ 4 mà trong tiền sử đã có hai con gái mắc bệnh MPS IVA thể nặng. Kết quả: thai nhi của lần mang thai thứ 3 được chẩn đoán mắc MPS IVA có hai đột biến giống như hai đột biến được phát hiện ở hai chị gái mắc bệnh là p.G116S (c.346G > A) trên exon 4 và p.R386C (c.1156C > T) trên exon 11. Một đột biến có nguồn gốc từ mẹ và một đột biến có nguồn gốc từ bố. Không có hoạt độ enzym GALNS ở tế bào gai rau nuôi cấy. Thai nhi của lần mang thai thứ 4 được chẩn đoán là “carrier” mang một đột biến có nguồn gốc từ mẹ p.G116S. Hoạt độ enzym GALNS của tế bào gai rau nuôi cấy là 2,99 UI/mg protein. Kết luận: phân tích đột biến gen GALNS của genom từ gai rau và tế bào gai rau nuôi cấy cho phép chẩn đoán trước sinh chính xác và nhanh.

Xem chi tiết