Đánh giá về ngưỡng khỏi bệnh nguyên bào nuôi khi β HCG huyết thanh < 5IU/L

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phạm Huy Hiền Hào, Trần Thị Phương Mai

Nghiên cứu tiến hành trên 75 thai trứng và 292 u nguyên bào nuôi được theo dõi trong 2 năm từ 1998-2003 sau khi βhCG < 5IU/L không có trường hợp nào biến chứng thành u nguyên bào nuôi. Tỷ lệ tái phát trong nhóm u nguyên bào nuôi là 7,5%; trong đó ở nhóm di căn tiên lượng nặng 23,8% cao hơn ở nhóm di căn tiên lượng nhẹ và không di căn 3,1%. Trong 22 bệnh nhân tái phát có nồng độ βhCG < 5IU/L có nồng độ βhCG được phát hiện sau thời gian 6 tháng cao hơn trong thời gian 6 tháng. Khi βhCG < 5IU/L để giảm sự tái phát cần cho thêm một số đợt hoá chất nữa.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tác dụng của egcg chè xanh (camellia sinensis) trên dòng tế bào ung th¬ư vú nuôi cấy

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Bùi Thị Thu Hương, Nguyễn Thị Hà ,Tạ Thành Văn

Nhiều nghiên cứu in vitro và in vivo cho thấy Epigallocatechin - 3 - gallate (EGCG) của chè xanh có khả năng ngăn ngừa, hạn chế quá trình phát triển của các bệnh lý liên quan đến hoạt động của gốc tự do. Mục tiêu nghiên cứu: Đánh giá khả năng ức chế sự phát triển tế bào và tác dụng gây chết tế bào theo chương trình (apoptosis) của EGCG chè xanh trên dòng tế bào ung thư vú người MCF7. Đối tượng và phương pháp: Sử dụng dòng tế bào ung thư vú MCF7 để khảo sát tác dụng của EGCG in vitro, thông qua các chỉ số: giá trị IC50, tỷ lệ tế bào sống, DNA ladder và hoạt độ caspase - 3. Kết quả: EGCG chè xanh có khả năng ức chế sự phát triển dòng tế bào ung thư vú MCF7 (92,2 - 25,1%), tác dụng này phụ thuộc vào liều (12,5 - 200mM) và thời gian tác dụng (48 - 72h). Giá trị ức chế 50% (IC50¬) = 43,13µM. EGCG chè xanh gây quá trình apoptosis trên dòng tế bào ung thư vú MCF7 thể hiện qua sự đứt gãy DNA, sự đứt gãy DNA, sự hoạt hoá enzym caspase - 3 và nồng độ EGCG chè xanh 12,5µM50µM gây apoptosis với hiệu lực cao nhất.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng một số trường hợp nhiễm nấm phổi (aspergillus fumigatus) điều trị tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Nấm phổi do Aspergillus không phải là bệnh hiếm gặp, nhưng nó thường bị ẩn trong các bệnh khác nên dễ bị bỏ qua. Ngày nay, với tình trạng gia tăng các yếu tố nguy cơ, tỷ lệ bắt gặp nấm phổi ngày một tăng. Mặt khác, với tiến bộ vượt bậc của các kỹ thuật chẩn đoán, nấm phổi ngày càng được chẩn đoán nhiều hơn. Mục tiêu: (1). Nghiên cứu các triệu chứng lâm sàng và cận lâm sàng của nấm phổi. (2). Nhận xét bước đầu về kết quả điều trị những trường hợp bị nấm phổi. Đối tượng nghiên cứu: 15 trường hợp nghi nấm phổi được khám lâm sàng và thực hiện các kỹ thuật chẩn đoán cũng như kết quả phẫu thuật, xét nghiệm sau mổ, xác định có nấm aspergillus fumigatus ở phổi từ 1/2007 đến 1/2008. Phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả. Kết quả. Nam: 8 TH, nữ 7 TH.Ho máu: 9 TH (60%).Chẩn đoán chắc chắn có nấm 12 TH (80%) (sinh thiết phế quản, sinh thiết xuyên thành ngực thấy nấm ở 5 TH (34%), 7 TH phẫu thụât cắt phổi (47%). Có 8 TH (53%) điều trị nội khoa vì không còn chỉ định mổ. Kết luận: nấm phổi không phải là 1 bệnh hiếm gặp, nó thường xảy rs trên cơ địa suy giảm miễn dịch hoặc có tổn thương lao cũ với triệu chứng lâm sàng thường gặp là ho máu.Về điều trị thì phẫu thuật là phương pháp hiệu quả đối với các TH u nấm, song với các TH suy giảm miễn dịch thì điều trị nội khoa là phương pháp hữu hiệu hơn

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng, cận lậm sàng của bệnh nhân viấm phổi cể nghiện rượu tại khoa Hô hấp - bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Vũ Văn Giáp, Ngô Quý Châu , Nguyễn Thị Hằng

Viêm phổi ở bệnh nhân (BN) nghiện rượu triệu chứng thường nặng và tiến triển nhanh, tỷ lệ biến chứng và tử vong cao hơn nhóm chứng. Nghiên cứu nhằm nhận xét đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng của BN viêm phổi nghiện rượu. Kết quả nghiên cứu cho thấy 47,4% số BN có thời gian nghiện rượu ≥ 20 năm, 61,7% số BN uống trung bình ≥ 500 ml/ ngày. Có 65,9% số BN có hội chứng cai. Các triệu chứng thường gặp: Khó thở: 73,2%, rối loạn giấc ngủ: 58,5%, ho khạc đờm: 53,7%, đau ngực: 48,8%, run tay chân: 41,5%, hoang tưởng: 34,1% và sốt: 92,7%; 24,3% có rối loạn ý thức. Cận lâm sàng: số lượng bạch cầu trung bình: 15,02 ± 22,01 (G/l), 61,5% Enzym CK tăng trong máu, AST trung bình là 194,03 ± 343,66 (U/L - 370C), ALT trung bình 74,23 ± 137,18 (UI/L-370C), vi khuẩn thường gặp là Klebsiella pneumoniae:33,3%. Kết luận: Viêm phổi nghiện rượu thường có các triệu chứng lâm sàng nhiễm trùng kết hợp với triệu chứng tâm thần của hội chứng cai rượu, diễn biến bệnh nhanh và rất nặng

Xem chi tiết

Kết quả điều trị hoá chất bằng phác đồ MP trên bệnh nhân đa u tuỷ xương cao tuổi tại khoa huyết học truyền máu - bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6

Tác giả: Vũ Minh Phương, Phạm Hồng Dương

Mục tiêu: Nghiên cứu một số thay đổi lâm sàng và xét nghiệm ở bệnh nhân đa u tuỷ xương cao tuổi sau điều trị bằng phác đồ MP. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 25 bệnh nhân ở Khoa Huyết học - truyền máu bệnh viện Bạch Mai được chẩn đoán đa u tuỷ xương và điều trị phác đồ MP. Kết quả: Tỷ lệ thiếu máu giảm từ 88% xuống 55% sau đợt điều trị thứ 3, tỷ lệ đau xương giảm từ 80% xuống 52% sau đợt điều trị thứ 2, Hb tăng từ 74,1 ± 29,7 g/l lên 114,9 ± 19,7 g/l sau đợt điều trị thứ 3, Protein máu toàn phần, Globulin và Ig bệnh lý, Creatinin đều giảm sau các đợt điều trị thứ 3 và thứ 4, tỷ lệ bệnh nhân có can xi > 2,6 mmol/l giảm từ 20% xuống 0% sau đợt điều trị thứ 4, tỷ lệ bệnh nhân có tổn thương xương trên phim XQ giảm từ 80% xuống 52% sau đợt điều trị thứ 2. Kết luận: Phác đồ MP có hiệu quả trong điều trị bệnh nhân đa u tuỷ xương cao tuổi: Bệnh nhân sau điều trị giảm thiếu máu, đau xương, tăng lượng Hb, các xét nghiệm protein máu toàn phần, globulin, Ig bệnh lý và creatinin, tổn thương xương trên XQ đều giảm.

Xem chi tiết

Những yếu tố nguy cơ của tăng huyết áp trong thời kỳ có thai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Ngô Văn Tài

Tăng huyết áp (THA) trong thời kỳ có thai gây ra nhiều biến chứng cho thai phụ và thai nhi. Việc nghiên cứu những yếu tố nguy cơ của bệnh sẽ góp phần vào việc tiên lượng những biến chứng sẽ xảy ra cho thai phụ và thai nhi. Trong nghiên cứu này được thực hiện từ tháng 8 năm 2000 đến tháng 8 năm 2003 (từ 320 thai phụ có THA) tại Viện BVBMTSS, cho kết quả như sau: Những yếu tố nguy cơ cho thai phụ và thai nhi gồm: Huyết áp tâm thu (HATT) ≥160 mmHg; Huyết áp tâm trương (HATTr) ≥ 90 mmHg; Protêin niệu≥ 3g/l; phù nặng; Protid toàn phần huyết thanh ≤ 40 g/l; u rê huyết thanh > 6,6 mmol/l; Crêatinin huyết thanh > 106 µmol/l; S.GOT≥70 UI/l; SGPT ≥70 UI/l; Số lượng tiểu cầu < 100000/mm3 máu; Acid uric > 400 µmol/l. Những biến chứng cho thai phụ gồm: chảy máu (3,1%); phù phổi (0%); rau bong non (4%); suy gan (1,9%); suy thận (4,4%); tử vong (0%); sản giật (12,5%). Những biến chứng thai nhi gồm: cân nặng <2500g (51,5%); đẻ non (36,3%); chết lưu (5,3%); chết sau đẻ (6,9%).

Xem chi tiết