Hội nghị phối hợp HUGO Pacirc (Human Genome Organisation) lần thứ 4 và ASIA Pacirc lần thứ 5 về Gen Học Người tại Bangkok Thái Lan

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 4

Tác giả: GS Vũ Triệu An

Không phải là người được trực tiếp đi dự Hội nghị nhưng nhờ Tiến sĩ Đỗ Năng Vinh có tham gia đã đem về quyển kỷ yếu các công trình được trình bầy trong Hội nghị. Sau khi đọc thì tôi thấy cần thiết viết bài báo này để thông tin cùng các bạn đọc cũng như nếu may ra đến được những người có trách nhiệm thấy rõ sự tiến bộ trong vùng về lãnh vực gen học phân tử nói chung, về gen học con người nhất là ứng dụng trong lãnh vực y học nói riêng. Những tiến bộ đó xẩy ra ngay bên cạnh chúng ta, tại các nước trong khối ASEAN mà chúng ta vẫn thường nêu khẩu hiệu đuổi kịp họ về mọi mặt trong đó có cả về khoa học y học. Trong khuôn khổ một bản thông tin không thể nào nói chi tiết và hết được cho nên chỉ có thể tóm tắt của tóm tắt.

Xem chi tiết

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E

Tên hướng dẫn: PGS.TS Lê Ngọc Thành

Tên tác giả: PHẠM THÀNH ĐẠT

Bệnh van hai lá là bệnh lý van tim hay gặp nhất, chủ yếu gồm các bệnh van mắc phải - chiếm khoảng 40% [1], do nhiều nguyên nhân khác nhau: thấp tim, viêm nội tâm mạc (Osler), thoái hoá…trong đó ở Việt Nam, bệnh van hai lá do thấp rất phổ biến [2] [3].
Bệnh van hai lá bao gồm ba thể bệnh chính: hẹp van đơn thuần, hẹp-hở van, hở van đơn thuần [4]. Tiến triển tự nhiên của bệnh van hai lá (suy tim, tăng áp lực ĐMP…) nếu không được can thiệp là tử vong ở độ tuổi trung bình từ 40 đến 50 [5] [6] [7], vì vậy cần phải chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời nhằm kéo dài, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Điều trị nội khoa giúp cải thiện triệu chứng cơ năng, nhưng không giải quyết được nguyên nhân. Các phương pháp như tách hẹp van tim kín, nong van bằng bóng qua da nhằm kéo dài thời gian và điều trị tạm thời tuy nhiên còn những hạn chế về mặt chỉ định [5] [6] [8] [9].
Trong các phương pháp điều trị, phẫu thuật tim hở thay hoặc sửa van là phương pháp điều trị triệt để khi tổn thương van hai lá không có khả năng bảo tồn [10] [11].
Cùng với sự tiến bộ về phẫu thuật tim hở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phẫu thuật thay van hai lá đã trở thành thường quy tại các trung tâm phẫu thuật tim mạch trên cả nước.
Phương pháp thay van truyền thống mở toàn bộ đường giữa xương ức với đường mở nhĩ trái là phương pháp cơ bản từ trên 50 năm nay [12] nhờ những ưu điểm như: phẫu trường rộng, cho phép đặt ống ĐM - TM trung tâm, áp dụng cho mọi thương tổn VHL [13]. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng đây vẫn là phương pháp khá “xâm lấn”, mang đến những sang chấn trong phẫu thuật, đặc biệt ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ, bệnh phối hợp [14] cũng như nhiều biến chứng như chảy máu, nhiễm trùng, viêm xương ức, tổn thương thần kinh [15].
14
Từ những năm 1990, thành công của phẫu thuật nội soi trong ngoại khoa nói chung đã thúc đẩy sự quan tâm tới các cách tiếp cận ít xâm lấn trong mổ tim. Trải qua hơn 10 năm phát triển, phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn, đặc biệt với nội soi hỗ trợ ngày càng được thực hiện nhiều hơn với những kết quả đáng ghi nhận [15].
Trong vòng vài năm trở lại đây, đã có những nghiên cứu về kết quả phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn được đăng tải trên y văn thế giới. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng đây là một phương pháp an toàn, tỷ lệ tử vong sau mổ thấp, giảm sang chấn, ít đau, ít chảy máu, giảm thời gian thở máy, hồi sức và nằm viện, tính thẩm mỹ cũng như giảm thiểu tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28].
Tại Việt Nam, phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ đã được thực hiện trong thời gian gần đây tại một số Trung tâm phẫu thuật tim mạch. Những kết quả ban đầu cho thấy phương pháp an toàn, khả thi, có thể triển khai thường quy với điều kiện trang thiết bị hiện có [29].
Tuy nhiên, phẫu thuật ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ ở Việt Nam hiện mới được áp dụng, còn chưa phổ biến, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ, hệ thống về chỉ định, quy trình kỹ thuật, kết quả, cũng như khả năng ứng dụng.
Xuất phát từ các vấn đề trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E” với hai mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm chẩn đoán, chỉ định và quy trình phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ
2. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E

Xem chi tiết

Chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm trong cùng một cơ thể người vợ có tiên sử sảy thai liên tiếp nhiều lần

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Văn Rực

Rối loạn nhiễm sắc thể (NST) cân bằng ở bố mẹ dẫn đến làm tăng nguy cơ vô sinh, sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phát hiện các bất thường NST ở cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và tư vấn về nguy cơ sinh sản ở cặp vợ chồng này. Kết quả cho thấy người chồng có karyotyp bình thường là 46,XY, người vợ có karyotyp là 45,XX,t(13q;14q),t(3;16)(q22;q22). Cặp vợ chồng này cần được tư vấn về nguy cơ sinh sản.

Xem chi tiết

Thủ Thuật Sản Phụ Khoa – ĐH Y Hà Nội

Chủ biên: GS. Dương Thị Cương

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Giới thiệu

Cuốn thủ thuật sản phụ khoa được tập hợp từ tất cả các bài giảng trên thực hành lâm sàng của cán bộ giảng dạy trong bộ môn Phụ Sản do GS.Dương Thị Cương làm chủ biên. Sách dành cho các đối tượng nữ hộ sinh trung học, sinh viên Y khoa năm thứ 3, năm thứ 4 lần đầu tiên học môn Phụ – Sản, các bác sĩ đa khoa công tác tại tuyến huyện và những độc giả khác.

Xem chi tiết