TELBIVUDINE MỘT DẪN CHẤT TƯ门NG TỰ NUCLEOSIDE MỚI DƯỢC THONG QUA DIỀU TRỊ VIEM GAN B MẠN TINH

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Bùi Xuân Trường

Khoảng 5% dân số thế giới (gần 400 triệu người) nhiễm virus viêm gan B mạn tính (HBV: hepatitis B virus), tính theo chiều dọc thời gian sống tỷ lệ nguy cơ triển triển thành xơ gan vào khoảng 15% đến 40% số người nhiễm HBV mạn tính, tử vong do suy gan hay các biến chứng khác của xơ gan hoặc ung thư gan là vấn đề mang tính toàn cầu. Trên thế giới, mỗi năm có thêm khoảng 0,5 triệu trường hợp ung thư gan mắc mới, virus viêm gan B là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây ung thư gan, đặc biệt thuộc khu vực tây Thái Bình Dương (trong đó có Việt Nam).

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 01

Tác giả: Nguyễn Xuân Hợi

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG và tỷ lệ có thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm và đánh giá các yếu tố liên quan đến tăng nồng độ progesterone, phân tích liên quan tương tác của nồng độ progesterone và các yếu tố khác đến tỷ lệ có thai lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu trên 1395 trường hợp IVF/ICSI được thực hiện tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2012. Tuổi ≤ 38; FSH ≤ 10 IU/L; chuyển phôi ngày 2 – 3; phcs đồ dài, ngắn và antagonist. Loại trừ các trường hợp cho hận noãn; các trường hợp PESA/ICSI. Kết quả cho thấy nồng độ progesterone trung bình cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm không có thai (0,88 ± 0,77 so với 0,76 ± 0,65). Khi progesterone tăng > 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai thấp hơn có ý nghĩa thống ke so với nồng độ progesterone ≤ 1,5 (21,6% so với 30,7%). Tỷ lệ progesterone tăng > 1,5 ng/ml trong kích thích buồng trứng là 9%. Với ngưỡng progesterone ≤ 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai lâm sàng cao hơn 1,63 lần và tỷ lệ làm tổ cao hơn 1,53 lần so với ngưỡng progesterone > 1,5 ng/ml. Progesterone tăng vào ngày tiêm hCG liên quan đến tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng ống soi mềm trong vi phẫu thuật nang dây thanh

Chuyên ngành: TAI MŨI HỌNG

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Lương Thị Minh Hương

Tên tác giả: LÊ PHƯƠNG TÌNH

Nang dây thanh là một loại tổn thương lành tính ở lớp mô đệm, dưới niêm mạc dây thanh. Đây là bệnh hay gặp, chiếm tỷ lệ tương đối cao trong các tổn thương lành tính dây thanh. Theo một số nghiên cứu thì chiếm khoảng 14 - 16% các khối tổn thương lành tính dây thanh [1], [2].
Nang dây thanh gây ra khàn tiếng, biến đổi âm sắc, nói chóng mệt, gây khó khăn trong giao tiếp hoặc hoạt động nghề nghiệp. Nang dây thanh có thể gặp cả hai giới, nguyên nhân chính là do hoạt động của dây thanh một cách quá mức, do viêm nhiễm vùng mũi họng hay do trào ngược họng thanh quản [3], [4], [5]…
Ngày nay việc chẩn đoán nang dây thanh không khó nhờ có nhiều thiết bị được ứng d ng trong thăm khám và chẩn đoán bệnh lý nang dây thanh như nội soi ống cứng, nội soi ống mềm….
Soi hoạt nghiệm thanh quản đã được ứng d ng ở bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương để chẩn đoán bệnh lý dây thanh. Đây là phương pháp đánh giá sự rung động của dây thanh b ng nội soi dưới ánh sáng nhấp nháy strobe . Soi hoạt nghiệm cho thấy hình ảnh một cách r nét hơn về sóng niêm mạc, tính đối xứng và sự khép thanh môn mà dưới nội soi ánh sáng thường không quan sát được.
Việc điều trị nang dây thanh bao gồm điều trị các ổ viêm nhiễm kế cận, điều trị chống trào ngược họng- thanh quản và luyện giọng.
Phẫu thuật cắt bỏ nang là phương pháp điều trị thường được áp d ng đối với nang dây thanh, có nhiều phương pháp để phẫu thuật trong đó có thể phẫu thuật qua ống soi mềm. Ống soi mềm có kích thước nhỏ, mềm nên có thể đưa qua đường mũi, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, dễ sử d ng do có thể uốn cong để đi vào các vùng mà ống soi cứng khó có thể soi được.

Để đánh giá hiệu quả của ống nội soi mềm trong phẫu thuật nang dây thanh chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên ng dụng ống soi mềm trong vi phẫ th ật nang dây thanh”.
Mục iêu:
1. Đối hiế một số i m âm s ng, nội soi v nội soi ho t nghi m trong nang dây thanh.
2. Đ nh gi ết sử dụng ống mềm vi phẫ th ật nang dây thanh q a nội soi v nội soi ho t nghi m.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh di căn phổi của ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá trên xạ hình toàn thân với i131

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Đình Hà

Mục tiêu: mô tả đặc điểm hình ảnh di căn phổi của ung thư biểu mô tuyến giáp thể biệt hoá (UTBMTGBH) trên xạ hình với I131, xác định vai trò của xạ hình toàn thân với I131 trong chẩn đoán di căn phổi của UTBMTGBH. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phân tích, đánh giá giá trị Tg, kết quả xạ hình toàn thân với I131 và film CT phổi ở 60 bệnh nhân UTBMTGBH di căn phổi. Kết quả: xạ hình với I131 phát hiện 58/60 (96,67%) các trường hợp di căn phổi, trong đó di căn phổi đơn thuần 56,7%, di căn phổi có kèm di căn hạch trung thất 25% và di căn phổi kết hợp với di căn xương 18,3%. Hình ảnh tổn thương tăng tập trung I131 dạng lan toả chiếm 65%, dạng khu trú 31,7%, 3,33% bệnh nhân tổn thương di căn không bắt I131. Chụp CT phổi phát hiện 32/60 bệnh nhân (53,3%) còn 28/60 bệnh nhân (46,7%) không thấy hình ảnh tổn thương phổi trên CT. Giá trị Tg trong máu cao trên 10 ng/ml ở 55/60 bệnh nhân (91,67%), có 5/60 bệnh nhân (8,33%) giá trị Tg < 10 ng/ml. Kết luận: xạ hình với I131 cho hình ảnh điển hình giúp phát hiện di căn phổi của UTBMTGBH với độ nhạy rất cao. Tổn thương di căn phổi trên xạ hình là hình ảnh tăng tập trung I131 dạng lan tỏa hoặc khu trú. Xạ hình toàn thân với I131 đóng vai trò quyết định trong chẩn đoán di căn phổi của UTBMTGBH. Hình ảnh tổn thương trên CT phổi kết hợp với nồng độ Tg trong máu cao có giá trị chẩn đoán trong những trường hợp tổn thương ở phổi không bắt I131 trên xạ hình.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh ung thư tế bào gan nguyên phát bằng kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính vòng xoắn 3 thì

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Phước Bảo Quân, Phạm Minh Thông

- Nghiên cứu trên 51 bệnh nhân chẩn đoán là ung thư tế bào gan nguyên (KTBGNP) dựa trên tiêu chuẩn: có kết quả giải phẫu bệnh hoặc có khối u gan trên siêu âm hay trên cắt lớp vi tính và AFP >500 ng/ml. - Trên cắt lớp vi tính vòng xoắn 3 thì (CLVTVX3T) phát hiện: thâm nhiễm lan toả trong 5 bệnh nhân, thể nhiều khối trong 20 bệnh nhân (39,2%) và thể 1 khối trong 26 bệnh chiếm 50,9%. Trong 46 bệnh nhân loại thương tổn khu trú (một khối hay nhiều khối), chúng tôi tìm thấy 121 u, kích thước u nhỏ nhất là 0,9 cm và cái lớn nhất là 12,9 cm. - Nghiên cứu cho thấy biểu hiện động mạch nuôi u trong 48 u tăng tỷ trọng ở thì động mạch với tỷ lệ là 44,1%; biểu hiện bao giả quanh u trong 23,1% trên tổng số u; thuyên tắc tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch gan, tĩnh mạch chủ dưới theo thứ tự là 50,9%; 35,3% và 18,3%; tỷ lệ thông động mạch với tĩnh mạch cửa, tĩnh mạch gan và tĩnh mạch chủ dưới là 21,6%; 13,7% và 3,9% trên tổng số bệnh nhân; hoại tử thường gặp trong các u lớn hơn 5cm với tỷ lệ 53,1% nhưng tỷ lệ này là 21,5% nếu không xét đến kích thước. - Kỹ thuật chụp CLVT VX 3T nhờ phản ánh bản chất huyết động học của nhu mô gan và KTBGNP nên đã cung cấp những thông tin phong phú giúp chẩn đoán và góp phần quyết định thái độ điều trị.

Xem chi tiết

ĐÁNH GIÁ TỶ LỆ CÓ THAI LÂM SÀNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN KẾT QUẢ CHUYỂN PHÔI ĐÔNG LẠNH

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Viết Tiến

Mục tiêu: đánh giá tỷ lệ có thai lâm sàng và một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai sau chuyển phôi đông lạnh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1013 phôi được nuôi cấy đến ngày 2 hoặc ngày 3 trong môi trường nuôi cấy IVF sau đó đông phôi theo quy trình đ«ng lạnh chậm. Phôi được rã đông và chuyển phôi khi có chỉ định. Số liệu xử lý trên chương trình SPSS. Kết quả: tuổi trung bình 32,81 ± 5,4. Nguyên nhân vô sinh do vòi trứng 71%. Tỷ lệ thai lâm sàng đối với chuyển phôi đông lạnh 28,1%, tỷ lệ có thai sau chuyển phôi đông lạnh ngày 3 cao hơn phôi đông lạnh ngày 2, tỷ lệ có thai của đông phôi ngày 1 là 40%. Tỷ lệ thai lưu 22,3%, tỷ lệ đa thai 44,4%. Tuổi bệnh nhân không ảnh hưởng đến kết quả có thai. Niêm mạc tử cung, chất lượng phôi có ảnh hưởng tỷ lệ có thai. Kết luận: tỷ lệ thai lâm sàng đối với chuyển phôi đông lạnh 28,1%. Chất lượng phôi, độ dày niêm mạc tử cung và thời điểm chuyển phôi ảnh hưởng đến tỷ lệ có thai sau chuyển phôi đông lạnh

Xem chi tiết

Kinh nghiệm từ ca lâm sàng ung thư biểu mô tế bào gan được điều trị kết hợp nút mạch có tiêm hóa chất với tiêm cồn qua da có di căn tế bào ung thư theo đường kim chọc hút tế bào

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Công Long, Bùi Xuân Trường, Phạm Minh Thông, Phạm Thị Thu Hồ, Nghiêm Quốc Hưng, Trần Minh Phương, Đào Văn Long, Nguyễn Khánh Trạch

Nút mạch có tiêm hóa chất và tiêm cồn qua da dưới hướng dẫn của siêu âm là hai trong số các phương pháp không phẫu thuật, hiện nay được áp dụng rộng rãi trong điều trị ung thư gan. Bệnh nhân nam 50 tuổi bị ung thư gan với đường kính khối U gan trên 5 cm, được điều trị nút mạch có tiêm hóa chất kết hợp với tiêm cồn sau đó, đến thời điểm hiện tại sống trên 6 năm, cho thấy kết quả điều trị rất tốt. Tuy nhiên, bệnh nhân xuất hiện di căn vào thành ngực theo đường kim chọc hút tế bào gan chính là vấn đề cần rút kinh nghiệm cho các trường hợp khác, đặc biệt trên bệnh nhân có khối U gan với đường kính lớn, hình ảnh siêu âm khá điển hình và có nồng độ AFP tăng cao trên 200 ng/ml. Từ khóa: Ung thư gan, TACE, PEIT

Xem chi tiết