Hội nghị phối hợp HUGO Pacirc (Human Genome Organisation) lần thứ 4 và ASIA Pacirc lần thứ 5 về Gen Học Người tại Bangkok Thái Lan

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 4

Tác giả: GS Vũ Triệu An

Không phải là người được trực tiếp đi dự Hội nghị nhưng nhờ Tiến sĩ Đỗ Năng Vinh có tham gia đã đem về quyển kỷ yếu các công trình được trình bầy trong Hội nghị. Sau khi đọc thì tôi thấy cần thiết viết bài báo này để thông tin cùng các bạn đọc cũng như nếu may ra đến được những người có trách nhiệm thấy rõ sự tiến bộ trong vùng về lãnh vực gen học phân tử nói chung, về gen học con người nhất là ứng dụng trong lãnh vực y học nói riêng. Những tiến bộ đó xẩy ra ngay bên cạnh chúng ta, tại các nước trong khối ASEAN mà chúng ta vẫn thường nêu khẩu hiệu đuổi kịp họ về mọi mặt trong đó có cả về khoa học y học. Trong khuôn khổ một bản thông tin không thể nào nói chi tiết và hết được cho nên chỉ có thể tóm tắt của tóm tắt.

Xem chi tiết

Đánh giá hiệu quả thở áp lực dương liên tục qua mặt nạ bằng van boussignac trong suy hô hấp thiếu oxy máu cấp sau mổ tim mở

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Lưu Quang Thùy, Nguyễn Quốc Kính

Thở áp lực dương liên tục (CPAP) qua van Boussignac gần đây được dùng thay thở máy trong suy hô hấp thiếu oxy máu cấp tính sau mổ tim mở (AHRF). Mục tiêu: (1)Đánh giá hiệu quả trên lâm sàng và khí máu của CPAP Boussignac trong điều trị AHRF sau mổ tim mở; (2)Nhận xét về thành công, thất bại và tác dụng không mong muốn của CPAP Boussignac. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu lâm sàng có đối chứng trước - sau, 35 bệnh nhân AHRF sau mổ tim mở thở CPAP Boussignac. Huyết áp trung bình (HATB), tần số tim, tần số thở và PaO2, PaO2/ FiO2, PaCO2 được đo so sánh giữa các thời điểm. Thời gian thở CPAP Boussignac, tỷ lệ thành công và nhược điểm của của phương pháp này được ghi nhận. Kết quả: HATB, tần số tim, tần số thở ổn định dần. Ở thời điểm trước 30 phút, 60 phút sau và khi kết thúc CPAP Boussignac có giá trị tương ứng PaO2 : 71,6 → 148,3 → 155,8 → 166,1 mmHg; PaO2/FiO2: 208,3 → 297,4 → 311,8 → 332,9 và PaCO2: 52,7→ 38,6 → 37,1 → 35,3 mmHg với p đều < 0,001. Thời gian thở CPAP 2,09 ± 0,5 đến 51,2 ± 14,1 giờ tuỳ nguyên nhân và tỷ lệ thành công 97.1%. Chỉ gặp một số phiền nạn nhỏ. Kết luận: CPAP Boussignac cải thiện HATB, tần số tim, tần số thở, trao đổi oxy (PaO2, PaO2/ FiO2) và thông khí (PaCO2). Tổng thời gian thở CPAP Boussignac ở nhóm AHRF do huyết động ngắn rõ (p < 0,05) so với nhóm không do huyết động. Tỷ lệ thành công cao và an toàn.

Xem chi tiết

Tình hình sử dụng nhà tiêu và thực hành rửa tay của người dân ở 3 xã vùng Tây Bắc năm 2010

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Trần Quỳnh Anh, Hoàng Thị Thu Hà, Đặng Ngọc Lan

Nghiên cứu được thực hiện tại ba xã vùng Tây Bắc là Búng Lao, Ảng Cang thuộc huyện Mường Ảng tỉnh Điện Biên và xã Na Hối huyện Bắc Hà tỉnh Lào Cai tháng 6/2010, hợp tác với Tổ chức Phát triển Hà Lan SNV. Mục tiêu: nghiên cứu nhằm mô tả tình hình sử dụng nhà tiêu của các hộ gia đình cũng như thực trạng rửa tay của người dân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang, tất cả các hộ gia đình ở cả ba xã, người đại diện hộ gia đình đều được phỏng vấn. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn. Xử lý và phân tích số liệu bằng phần mềm EPI INFO. Kết quả và kết luận: Tình hình sử dụng nhà tiêu: Tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu cao nhất là 60,8%, thấp nhất là 43,6%. Loại nhà tiêu phổ biến là hố xí đào (96,7% ở xã Ảng Cang) và hố xí thấm dội nước (29,6% và 41,5% ở hai xã Búng Lao và Na Hối). Lý do chủ yếu không có nhà tiêu là do không có tiền để xây (58,2% ở xã Búng Lao và 83,8% ở xã Na Hối). Thực trạng rửa tay: Tỷ lệ hộ gia đình có rửa tay bằng xà phòng cao nhất ở xã Na Hối 98,3%, thấp nhất ở xã Búng Lao 53,8%. Tỷ lệ hộ gia đình có sẵn xà phòng rửa tay rất thấp ở xã Ảng Cang với 4,6%. Tỷ lệ hộ gia đình có trẻ em rửa tay trước khi ăn cao nhất ở xã Na Hối 55%, thấp nhất ở xã Ảng Cang 10%. Tỷ lệ hộ gia đình có trẻ em rửa tay sau khi đi vệ sinh cao nhất ở xã Ảng Cang 62%, thấp nhất ở xã Na Hối 26,5%.

Xem chi tiết

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E

Tên hướng dẫn: PGS.TS Lê Ngọc Thành

Tên tác giả: PHẠM THÀNH ĐẠT

Bệnh van hai lá là bệnh lý van tim hay gặp nhất, chủ yếu gồm các bệnh van mắc phải - chiếm khoảng 40% [1], do nhiều nguyên nhân khác nhau: thấp tim, viêm nội tâm mạc (Osler), thoái hoá…trong đó ở Việt Nam, bệnh van hai lá do thấp rất phổ biến [2] [3].
Bệnh van hai lá bao gồm ba thể bệnh chính: hẹp van đơn thuần, hẹp-hở van, hở van đơn thuần [4]. Tiến triển tự nhiên của bệnh van hai lá (suy tim, tăng áp lực ĐMP…) nếu không được can thiệp là tử vong ở độ tuổi trung bình từ 40 đến 50 [5] [6] [7], vì vậy cần phải chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời nhằm kéo dài, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Điều trị nội khoa giúp cải thiện triệu chứng cơ năng, nhưng không giải quyết được nguyên nhân. Các phương pháp như tách hẹp van tim kín, nong van bằng bóng qua da nhằm kéo dài thời gian và điều trị tạm thời tuy nhiên còn những hạn chế về mặt chỉ định [5] [6] [8] [9].
Trong các phương pháp điều trị, phẫu thuật tim hở thay hoặc sửa van là phương pháp điều trị triệt để khi tổn thương van hai lá không có khả năng bảo tồn [10] [11].
Cùng với sự tiến bộ về phẫu thuật tim hở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phẫu thuật thay van hai lá đã trở thành thường quy tại các trung tâm phẫu thuật tim mạch trên cả nước.
Phương pháp thay van truyền thống mở toàn bộ đường giữa xương ức với đường mở nhĩ trái là phương pháp cơ bản từ trên 50 năm nay [12] nhờ những ưu điểm như: phẫu trường rộng, cho phép đặt ống ĐM - TM trung tâm, áp dụng cho mọi thương tổn VHL [13]. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng đây vẫn là phương pháp khá “xâm lấn”, mang đến những sang chấn trong phẫu thuật, đặc biệt ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ, bệnh phối hợp [14] cũng như nhiều biến chứng như chảy máu, nhiễm trùng, viêm xương ức, tổn thương thần kinh [15].
14
Từ những năm 1990, thành công của phẫu thuật nội soi trong ngoại khoa nói chung đã thúc đẩy sự quan tâm tới các cách tiếp cận ít xâm lấn trong mổ tim. Trải qua hơn 10 năm phát triển, phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn, đặc biệt với nội soi hỗ trợ ngày càng được thực hiện nhiều hơn với những kết quả đáng ghi nhận [15].
Trong vòng vài năm trở lại đây, đã có những nghiên cứu về kết quả phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn được đăng tải trên y văn thế giới. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng đây là một phương pháp an toàn, tỷ lệ tử vong sau mổ thấp, giảm sang chấn, ít đau, ít chảy máu, giảm thời gian thở máy, hồi sức và nằm viện, tính thẩm mỹ cũng như giảm thiểu tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28].
Tại Việt Nam, phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ đã được thực hiện trong thời gian gần đây tại một số Trung tâm phẫu thuật tim mạch. Những kết quả ban đầu cho thấy phương pháp an toàn, khả thi, có thể triển khai thường quy với điều kiện trang thiết bị hiện có [29].
Tuy nhiên, phẫu thuật ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ ở Việt Nam hiện mới được áp dụng, còn chưa phổ biến, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ, hệ thống về chỉ định, quy trình kỹ thuật, kết quả, cũng như khả năng ứng dụng.
Xuất phát từ các vấn đề trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E” với hai mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm chẩn đoán, chỉ định và quy trình phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ
2. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E

Xem chi tiết

Chuyển đoạn tương hỗ và chuyển đoạn hòa hợp tâm trong cùng một cơ thể người vợ có tiên sử sảy thai liên tiếp nhiều lần

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Văn Rực

Rối loạn nhiễm sắc thể (NST) cân bằng ở bố mẹ dẫn đến làm tăng nguy cơ vô sinh, sảy thai liên tiếp và sinh con bị dị tật bẩm sinh. Nghiên cứu được thực hiện nhằm phát hiện các bất thường NST ở cặp vợ chồng có tiền sử sảy thai liên tiếp và tư vấn về nguy cơ sinh sản ở cặp vợ chồng này. Kết quả cho thấy người chồng có karyotyp bình thường là 46,XY, người vợ có karyotyp là 45,XX,t(13q;14q),t(3;16)(q22;q22). Cặp vợ chồng này cần được tư vấn về nguy cơ sinh sản.

Xem chi tiết