Tỷ lệ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người truởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Trần Ngọc Phương Thảo

Nhạy cảm ngà là tình trạng phổ biến và xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi trẻ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 871 người từ 18 đến 79 tuổi, nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh. Khám lâm sàng và chẩn đoán nhạy cảm ngà răng bằng kích thích cọ xát (50g) và kích thích thổi hơi (40 - 65p.s.i, 22 ± 20C), đánh giá theo thang điểm 0 - 3. Kết quả cho thấy 85,8% người có răng nhạy cảm với ít nhất một trong hai kích thích, trong đó, 47,4% nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình; khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p < 0,001) và giữa các nhóm nghề nghiệp (p < 0,05), không có khác biệt có ý nghĩa khi xét theo giới hoặc theo khu vực nội và ngoại thành. Số răng nhạy cảm ngà trung bình tăng theo tuổi. Tỷ lệ nhạy cảm ngà ở từng răng thay đổi từ 10% đến 61%, cao nhất ở vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên, thấp nhất ở vùng răng cửa và răng cối lớn thứ hai hàm trên. Nhạy cảm ngà răng là một tình trạng phổ biến tại thành phố Hồ Chí Minh, gần một nửa người trưởng thành có nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình. Tỷ lệ nhạy cảm ngà cao nhất ở lứa tuổi 40 - 49. Răng thường nhạy cảm ngà nhất là răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên.

Xem chi tiết

Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Nguyễn Thị Nga

Ra đề thi là một khâu rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập. Xây dựng được cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và tạo lập đề thi ngẫu nhiên sẽ đảm bảo tính khách quan trong quá trình ra đề thi, bao quát nội dung chương trình, nhanh chóng, thuận tiện cũng như đảm bảo tính bí mật của đề thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Mục tiêu: Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mẫu đề của các bộ môn, đơn vị, các quy chế thi cử và yêu cầu về đề thi nghiệm trên giấy để xây dựng cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và phần mềm tạo lập đề thi trắc nghiệm. Kết quả: Chương trình tạo đề thi ngẫu nhiên đã được áp dụng để ra đề thi tuyển sinh sau đại học môn Toán (Cao học, nghiên cứu sinh, Bác sĩ nội trú bệnh viện) từ năm học 2004 đến nay, đáp ứng tốt các yêu cầu đặt ra. Kết luận: Phần mềm này được thực hiện dễ dàng đảm bảo tính khách quan, khoa học trong quá trình ra đề và đã phần nào giải quyết được những khó khăn, vất vả trong khâu ra đề thi.

Xem chi tiết

Theo dõi dọc một năm bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS An Lạc, TP Hồ Chí Minh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Bích Vân, Hoàng Tử Hùng

Nghiên cứu thuộc dự án nghiên cứu về “các yếu tố nguy cơ sâu răng, liên kết những bằng chứng cá nhân và cộng đồng” của Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM. Mục tiêu: xác định những yếu tố thật sự làm trẻ có nguy cơ cao tăng sâu răng sau một năm để từ đó xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng trong tương lai của học sinh 12 tuổi trường THCS An Lạc quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 149 học sinh 12 tuổi được khám sâu răng theo chỉ số ICDAS và thu thập các yếu tố nguy cơ lần 1 (tháng 3/2006) và được tái đánh giá tình trạng sâu răng sau 1 năm (tháng 3/2007). Các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tích mối liên quan với sự thay đổi tình trạng sâu răng sau 1 năm gồm có: độ nhớt nước bọt, pH nước bọt không kích thích, lưu lượng nước bọt kích thích, khả năng đệm của nước bọt, số lượng Streptococcus mutans, số lượng Lactobacilli, pH mảng bám, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn của cha, trình độ học vấn của mẹ, mức thu nhập gia đình, chế độ ăn có đường và axít giữa các bữa ăn chính, số lần chải răng, sang thương sâu răng mới chớm (đốm trắng/ nâu), có sâu răng đến ngà ban đầu. Kết quả: tình trạng sâu răng được đánh giá ở 2 ngưỡng chẩn đoán khác nhau: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ % sâu răng là 67,1% và số trung bình S3MT MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ % sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12. Về sự gia tăng sâu răng sau 1 năm, ở mức S1, sau 1 năm có 81,2% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 4,6 mặt răng sâu mới; ở mức S3 có 49% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 1,09 mặt răng sâu mới. Khi phân tích mối liên quan giữa từng yếu tố với sự phân bố tỷ lệ % trẻ không tăng sâu răng (DS3MT - MR = 0) và tăng sâu răng cao (DS3MT-MR ≥ 2) kết quả cho thấy có 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa: pH nước bọt không kích thích, yếu tố khả năng đệm của nước bọt, yếu tố pH mảng bám, yếu tố VSRM và yếu tố có sang thương sâu đến ngà ban đầu. Khi phân tích hồi quy đa yếu tố, chỉ có hai yếu tố là yếu tố “Khả năng đệm của nước bọt không tốt” (p = 0,023) và yếu tố “Có sang thương sâu đến ngà ban đầu” (p < 0,001) là 2 yếu tố nguy cơ thực sự làm trẻ có nguy cơ tăng tối thiểu 2 mặt răng sâu sau một năm. Xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng bao gồm 2 yếu tố: khả năng đệm của nước bọt không tốt và có sang thương sâu đến ngà ban đầu đạt được khả năng tiên đoán sâu răng rất cao với độ nhạy là 100%, độ chuyên 95,5%, PV(+) là 86,7% và PV(-) là 100%. Kết luận: nghiên cứu đã xây dựng được 1 mô thức tiên đoán sâu răng có giá trị tiên đoán sâu răng cao. Khuyến nghị: cần đánh giá cả sang thương sâu răng sớm để tránh ước lượng dưới tình trạng sâu răng. Chiến lược dự phòng sâu răng nên tập trung vào nhóm có nguy cơ sâu răng cao cụ thể là nhóm trẻ đang có sang thương sâu ngà trong miệng.

Xem chi tiết

Nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Đoàn Hồ Điệp, Trần Ngọc Phương Thảo, Hoàng Đạo Bảo Trâm

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và mức độ nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi, có sức khỏe toàn thân và răng miệng tốt và có nhu cầu điều trị tẩy trắng răng. Tình trạng nhạy cảm ngà răng được đánh giá trong điều kiện không kích thích và có kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh, trên các răng trước hàm trên, theo thang đánh giá 4 mức độ (0 - 3). 100% bệnh nhân không nhạy cảm ngà trong điều kiện không kích thích; tỷ lệ bệnh nhân có nhạy cảm ngà với kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh là 47%, trong đó 2% do kích thích luồng hơi và 45% do kích thích lạnh; tất cả các trường hợp nhạy cảm đều ở mức độ nhẹ (mức độ 1); răng cửa có tỷ lệ nhạy cảm ngà cao hơn răng nanh, khác biệt có ý nghĩa; không có khác biệt về tỷ lệ và mức độ nhạy cảm giữa bên phải và bên trái; tỷ lệ nhạy cảm ngà ở nữ cao hơn ở nam, khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Xem chi tiết

Giải trình tự toàn bộ gen caga và đặc điểm protein caga ở năm mẫu helicobacter pylori trên bệnh nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma

Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma Chủng Helicobacter pylori (H.pylori) mang gen cagA có khả năng gây tổn thương viêm teo và ung thư thư dạ dày cao hơn so với chủng không mang gen cagA. Mục tiêu: Tiến hành giải trình tự toàn bộ gen cagA và bước đầu phân tích, phân loại protein CagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bao gồm 5 mẫu H.pylori ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh. H.pylori được nuôi cấy và làm PCR để xác định trước khi tiến hành giải trình tự gen toàn bộ. Phân tích và xây dựng cây phân loại sinh học bằng các chương trình xử lý sinh học. Kết quả: chiều dài chức năng gen cagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam 3480 - 3588 nucleotid, số lượng amino acid tương ứng trên phân tử protein CagA 1159 - 1195 amino acids. Tất cả các phân tử protein CagA đều thuộc loại Đông Á. Tuy cùng thuộc loại protein CagA đông Á, chủng H.pylori ở bệnh nhân Nhật Bản và Việt Nam thuộc về hai nhóm khác nhau trên cây phân loại sinh học. Kết luận: nghiên cứu bước đầu cho thấy H.pylori protein CagA ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc loại đông Á.

Xem chi tiết

Xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Hằng, Trần Thúy Nga

Nghiên cứu nhằm xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính. Kết quả cho thấy chương trình Thi trắc nghiệm đã được áp dụng để tổ chức thực hiện việc thi hết môn Tin học cho tất cả các đối tượng: Sinh viên Y1, Cao học, CKI, CKII, CNĐDTC,… từ năm học 2009 -2010 đến nay. Chương trình đã đáp ứng được các tiêu chí: câu hỏi bao phủ chương trình, điểm thi phân loại được sinh viên. Chương trình thi trắc nghiệm trên máy tính ra đời đã giải quyết được phần lớn những khó khăn, vất vả trong việc thi cử. Ngoài ra, chương trình cũng đảm bảo tính công bằng, khách quan và giảm bớt tiêu cực trong thi cử.

Xem chi tiết

Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ vùng ven biển xã Hải Minh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Trần Thị Phúc Nguyệt, Hoàng Thị Hằng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực hành cho con bú và một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bú của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Hải Minh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi là 63,0%. có 60,5% bà mẹ cho con bú sớm 1 giờ đầu sau sinh.Tồn tại một số thực hành nuôi con bằng sữa mẹ chưa tốt như 18% bà mẹ vắt bỏ sữa non, 41,7% bà mẹ cho rằng sữa non không có chất dinh dưỡng. Sự tồn tại của một số thói quen không tốt (2,5% bà mẹ uống nước tiểu trẻ trai buổi sáng) của các bà mẹ đã tác động đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.

Xem chi tiết

Tác động của mô hình thí điểm phương thức thanh toán theo định suất đối với sự hài lòng của nguời bệnh tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 6

Tác giả: Lê Trí Khải, Nguyễn Công Khẩn,Trần Văn Tiến, Hoàng Văn Minh

Triển khai mô hình thí điểm phương thức thanh toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế theo định suất tại một số trạm y tế xã tỉnh Kon Tum và tiến hành nghiên cứu nhằm đánh giá tác động của mô hình này đối với sự hài lòng của người bệnh được khám chữa bệnh tại trạm y tế xã năm 2012. Ba xã Ngọc Tụ, Đăk Rơ Nga và Đăk Trăm huyện Đăk Tô được chọn để can thiệp; ba xã Đăk Tre, Đăk Pne và Đăk Kôi huyện Kon Rẫy được chọn làm đối chứng. Thời gian nghiên cứu từ tháng 10/2011 đến tháng 5/2014. Đối tượng nghiên cứu là 636 người được khám chữa bệnh bảo hiểm y tế tại 6 trạm y tế xã trong năm 2012. Thiết kế nghiên cứu can thiệp có đối chứng. Tỷ lệ người trả lời hài lòng với dịch vụ khám chữa bệnh tại 3 trạm y tế xã thực hiện thí điểm phương thức thanh toán theo định suất là 93,4%, trong khi đó tỷ lệ này tại 3 trạm y tế xã thực hiện phương thức thanh toán theo dịch vụ là 78,1%; người bệnh tại các xã can thiệp có xác suất hài lòng với dịch vụ khám chữa bệnh tại trạm y tế xã cao gấp 2,3 lần so với người bệnh tại các xã đối chứng.

Xem chi tiết