Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Xác định sơ bộ giá trị phần trăm, tuyệt đối của tiểu quần thể lympho (T CD3, T CD4, T CD8, B, NK) ở nhóm người bình thường tại thành phố hồ chí Minh bằng máy FASCALIBUR

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Khiêm Hùng

Mục tiêu là xác định các giá trị bình thường của tiểu quần thể lympho, trên cơ sở đó làm số liệu tham chiếu cho bệnh nhân đến làm xét nghiệm tại viện Pasteur Thành phố H? Chí Minh và tiến hành so sánh các giá trị này với các giá trị của người Iran. Phương pháp áp dụng: lấy máu người bình thường (n=47) chống đông bằng EDTA. ủ máu với hai nhóm kháng thể của BD chứa trong hai ống khác nhau: CD3/ CD8/ CD45/ CD4 ; CD3/ CD16,56 / CD45/ CD19. Sau khi xử lý mẫu được cho qua máy FASC, phân tích, tính toán, thống kê. Cuối cùng xác định các giá trị T CD3, T CD4, T CD8, B, NK ở từng mẫu riêng biệt. Kết quả: T CD3: % (X = 68, SD: 7.94) . Tuyệt đối (X = 2412, SD: 691); T CD4: % (X = 35.7, SD: 6.2) . Tuyệt đối (X = 915, SD: 339); T CD8: % (X = 25.85, SD: 5.46) . Tuyệt đối (X = 626, SD: 245); B: % (X = 7.97, SD: 2.79). Tuyệt đối (X = 194, SD: 93); NK: % (X = 20.1, SD: 7.18) . Tuyệt đối (X = 477, SD: 203); Tỉ lệ T CD4/ T CD8: X =1.53, SD: 0.46. Kết luận: Khi so sánh với các giá trị của quần thể Iran, thì chỉ có tỉ lệ % NK của nhóm nghiên cứu là cao còn những giá trị còn lại đều thấp hơn.

Xem chi tiết

Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Trần Khánh Toàn, Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Ngọc Linh

Mô hình nguyên nhân tử vong phản ánh gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng và là thông tin quan trọng cho xây dựng chính sách y tế dựa vào bằng chứng. Mục tiêu: Xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp phỏng vấn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1925 trường hợp tử vong trong năm 2008 ở 24 xã phường được điều tra bằng bộ câu hỏi chuẩn của WHO. Kết quả: Chỉ 14,1% không xác định được nguyên nhân. Bệnh không lây chiếm hầu hết các nguyên nhân tử vong hàng đầu, cao nhất là bệnh mạch máu não (15,7% ở nam và 16,4% ở nữ) và bệnh đường hô hấp dưới mạn tính (7,2% và 6,3%). HIV/AIDS và lao là hai bệnh nhiễm khuẩn gây tử vong nhiều nhất với tỷ trọng thấp hơn ở nam, tập trung vào độ tuổi lao động. Bệnh lý chu sinh đứng hàng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ em. Có sự khác biệt về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu ở mỗi nhóm tuổi. Kết luận: Bệnh không lây truyền đang chiếm ưu thế áp đảo trong mô hình nguyên nhân tử vong ở 2 thành phố này cho thấy gánh nặng bệnh tật kép diễn ra sớm và nhanh hơn ở khu vực thành phố.

Xem chi tiết

Tỷ lệ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người truởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Trần Ngọc Phương Thảo

Nhạy cảm ngà là tình trạng phổ biến và xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi trẻ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 871 người từ 18 đến 79 tuổi, nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh. Khám lâm sàng và chẩn đoán nhạy cảm ngà răng bằng kích thích cọ xát (50g) và kích thích thổi hơi (40 - 65p.s.i, 22 ± 20C), đánh giá theo thang điểm 0 - 3. Kết quả cho thấy 85,8% người có răng nhạy cảm với ít nhất một trong hai kích thích, trong đó, 47,4% nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình; khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p < 0,001) và giữa các nhóm nghề nghiệp (p < 0,05), không có khác biệt có ý nghĩa khi xét theo giới hoặc theo khu vực nội và ngoại thành. Số răng nhạy cảm ngà trung bình tăng theo tuổi. Tỷ lệ nhạy cảm ngà ở từng răng thay đổi từ 10% đến 61%, cao nhất ở vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên, thấp nhất ở vùng răng cửa và răng cối lớn thứ hai hàm trên. Nhạy cảm ngà răng là một tình trạng phổ biến tại thành phố Hồ Chí Minh, gần một nửa người trưởng thành có nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình. Tỷ lệ nhạy cảm ngà cao nhất ở lứa tuổi 40 - 49. Răng thường nhạy cảm ngà nhất là răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên.

Xem chi tiết

Hoạt động thể lực và mối liên quan với yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp ở trẻ vị thành niên thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Ngọc Minh, Hà Huỳnh Kim Yến, Tăng Kim Hồng

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp đang trở thành vấn đề sức khỏe quan trọng ở trẻ vị thành niên và hoạt động thể lực có thể lảm giảm khả năng mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để tìm mối liên quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp, từ đó đưa ra khuyến cáo về thời gian hoạt động thể lực cho trẻ vị thành niên TPHCM. Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên học sinh cấp II từ 12 - 16 tuổi ở các trường nội thành TPHCM. 617 học sinh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn theo PPS (Probability Proportionate to Size). Chúng tôi khảo sát tỉ lệ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp dựa vào định nghĩa của IDF năm 2007. Máy đo gia tốc MTI Actigraph được dùng để khảo sát tình trạng hoạt động thể lực. Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm STATA 10. Hồi qui logistic đa biến được sử dụng để tìm mối tương quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp. Kết quả cho thấy trẻ dành 45 phút/ ngày cho hoạt động thể lực vừa và nặng, trẻ nam dành thời gian hoạt động nhiều hơn trẻ nữ, tỷ lệ trẻ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch là 5,07%, trong đó, yếu tố cao huyết áp là thường gặp nhất (22,04%). Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy có mối tương quan nghịch giữa thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng với YTNCTM phối hợp. Khi hoạt động thể lực càng tăng thì tỷ lệ mắc YTNCTM càng giảm với OR tương ứng ở các CI 95% của thời gian hoạt động thể lực tăng dần là 0,95 (CI 95%: 0,26-3,52); 0,90 (CI 95%: 0,21 - 3,91); 0,37 (CI 95%: 0,07-1,95); 0,18 (CI 95%: 0,04 - 0,85). Từ kết quả này thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng cho trẻ vị thành niên là khoảng 70 phút/ ngày để làm giảm 60% nguy cơ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên đối với trẻ thiếu hoạt động thể lực nên bắt đầu hoạt động thể lực vừa và nặng 50 phút/ sau đó từ từ đạt được mục tiêu là 70 phút/ ngày.

Xem chi tiết

Tỉ lệ dị tật bẩm sinh và giá trị của siêu âm trong chuẩn đoán dị tật bẩm sinh trước sinh

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Lưu Thị Hồng

Đánh giá tỉ lệ dị tật bẩm sinh (DTBS) và tìm hiểu giá trị của siêu âm đối với chẩn đoán dị tật bẩm sinh (DTBS) trước sinh. Đối tượng và phương pháp: 20345 thai phụ đến khám thai và được siêu âm sàng lọc trước sinh để phát hiện dị tật bẩm sinh của thai nhi tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, trong thời gian từ 01/07/2003 đến 31/03/2006. Kết quả: 926 thai phụ có thai nhi bị DTBS, chiếm tỉ lệ 4,55%. Có thai nhi mang một hoặc nhiều DT cho nên số DTBS là 1206. Trong số các DTBS phát hiện trên siêu âm, DT thần kinh trung ương là cao nhất, chiếm 28,61% trong đó thai vô sọ là 9,70%, ít nhất là thoát vị hoành chiếm 0,170%. Trong số những thai phụ này, đối chiếu kết quả siêu âm trước sinh và nhận xét lâm sàng 772 hồ sơ sau sinh và xác định giá trị của siêu âm đối với sàng lọc trước sinh. có độ nhậy là 92,49%, độ đặc hiệu 99,96%. Kết luận: Siêu âm có giá trị được sử dụng như một phương pháp phát hiện DTBS về hình thái thai nhi trước sinh.

Xem chi tiết

Tìm hiểu R-plasmid ở một số chủng Salmonella typhi phân lập tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Đắc Trung, Lê Văn Phủng, Lê Huy Chính

Các chủng Salmonella typhi đa đề kháng hiện đã lan tràn tới hầu hết các vùng trong cả nước. Nghiên cứu đã dùng 90 chủng Salmonella typhi phân lập từ Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu về các plasmid của chúng. Kết quả cho thấy: Đã tìm thấy hai plasmid 120 Kb và 102 Kb ở các chủng kể trên, plasmid 120 Kb có 2 copy. Plasmid 120 Kb là một R-plasmid lớn, có khả năng tự truyền cho chủng khác và mang ít nhất 5 gene kháng kháng sinh: chloramphenicol, tetracycline, ampicillin, trimethoprim và sulphamethoxazole. Phân tích bằng enzyme hạn chế EcoR I cho thấy, các R-plasmid từ các chủng Salmonella phân lập ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh đều giống nhau.

Xem chi tiết

Giải trình tự toàn bộ gen caga và đặc điểm protein caga ở năm mẫu helicobacter pylori trên bệnh nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma

Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma Chủng Helicobacter pylori (H.pylori) mang gen cagA có khả năng gây tổn thương viêm teo và ung thư thư dạ dày cao hơn so với chủng không mang gen cagA. Mục tiêu: Tiến hành giải trình tự toàn bộ gen cagA và bước đầu phân tích, phân loại protein CagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bao gồm 5 mẫu H.pylori ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh. H.pylori được nuôi cấy và làm PCR để xác định trước khi tiến hành giải trình tự gen toàn bộ. Phân tích và xây dựng cây phân loại sinh học bằng các chương trình xử lý sinh học. Kết quả: chiều dài chức năng gen cagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam 3480 - 3588 nucleotid, số lượng amino acid tương ứng trên phân tử protein CagA 1159 - 1195 amino acids. Tất cả các phân tử protein CagA đều thuộc loại Đông Á. Tuy cùng thuộc loại protein CagA đông Á, chủng H.pylori ở bệnh nhân Nhật Bản và Việt Nam thuộc về hai nhóm khác nhau trên cây phân loại sinh học. Kết luận: nghiên cứu bước đầu cho thấy H.pylori protein CagA ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc loại đông Á.

Xem chi tiết