Mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh năm 2008

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Trần Khánh Toàn, Nguyễn Phương Hoa, Nguyễn Ngọc Linh

Mô hình nguyên nhân tử vong phản ánh gánh nặng bệnh tật trong cộng đồng và là thông tin quan trọng cho xây dựng chính sách y tế dựa vào bằng chứng. Mục tiêu: Xác định mô hình nguyên nhân tử vong tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh bằng phương pháp phỏng vấn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1925 trường hợp tử vong trong năm 2008 ở 24 xã phường được điều tra bằng bộ câu hỏi chuẩn của WHO. Kết quả: Chỉ 14,1% không xác định được nguyên nhân. Bệnh không lây chiếm hầu hết các nguyên nhân tử vong hàng đầu, cao nhất là bệnh mạch máu não (15,7% ở nam và 16,4% ở nữ) và bệnh đường hô hấp dưới mạn tính (7,2% và 6,3%). HIV/AIDS và lao là hai bệnh nhiễm khuẩn gây tử vong nhiều nhất với tỷ trọng thấp hơn ở nam, tập trung vào độ tuổi lao động. Bệnh lý chu sinh đứng hàng thứ 2 trong các nguyên nhân tử vong ở trẻ em. Có sự khác biệt về trật tự của các nguyên nhân tử vong hàng đầu ở mỗi nhóm tuổi. Kết luận: Bệnh không lây truyền đang chiếm ưu thế áp đảo trong mô hình nguyên nhân tử vong ở 2 thành phố này cho thấy gánh nặng bệnh tật kép diễn ra sớm và nhanh hơn ở khu vực thành phố.

Xem chi tiết

Tỷ lệ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người truởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Trần Ngọc Phương Thảo

Nhạy cảm ngà là tình trạng phổ biến và xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi trẻ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 871 người từ 18 đến 79 tuổi, nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh. Khám lâm sàng và chẩn đoán nhạy cảm ngà răng bằng kích thích cọ xát (50g) và kích thích thổi hơi (40 - 65p.s.i, 22 ± 20C), đánh giá theo thang điểm 0 - 3. Kết quả cho thấy 85,8% người có răng nhạy cảm với ít nhất một trong hai kích thích, trong đó, 47,4% nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình; khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p < 0,001) và giữa các nhóm nghề nghiệp (p < 0,05), không có khác biệt có ý nghĩa khi xét theo giới hoặc theo khu vực nội và ngoại thành. Số răng nhạy cảm ngà trung bình tăng theo tuổi. Tỷ lệ nhạy cảm ngà ở từng răng thay đổi từ 10% đến 61%, cao nhất ở vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên, thấp nhất ở vùng răng cửa và răng cối lớn thứ hai hàm trên. Nhạy cảm ngà răng là một tình trạng phổ biến tại thành phố Hồ Chí Minh, gần một nửa người trưởng thành có nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình. Tỷ lệ nhạy cảm ngà cao nhất ở lứa tuổi 40 - 49. Răng thường nhạy cảm ngà nhất là răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên.

Xem chi tiết

Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Tìm hiểu R-plasmid ở một số chủng Salmonella typhi phân lập tại Hà Nội, Huế và thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Đắc Trung, Lê Văn Phủng, Lê Huy Chính

Các chủng Salmonella typhi đa đề kháng hiện đã lan tràn tới hầu hết các vùng trong cả nước. Nghiên cứu đã dùng 90 chủng Salmonella typhi phân lập từ Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh để nghiên cứu về các plasmid của chúng. Kết quả cho thấy: Đã tìm thấy hai plasmid 120 Kb và 102 Kb ở các chủng kể trên, plasmid 120 Kb có 2 copy. Plasmid 120 Kb là một R-plasmid lớn, có khả năng tự truyền cho chủng khác và mang ít nhất 5 gene kháng kháng sinh: chloramphenicol, tetracycline, ampicillin, trimethoprim và sulphamethoxazole. Phân tích bằng enzyme hạn chế EcoR I cho thấy, các R-plasmid từ các chủng Salmonella phân lập ở Hà Nội, Huế và Thành phố Hồ Chí Minh đều giống nhau.

Xem chi tiết

Giải trình tự toàn bộ gen caga và đặc điểm protein caga ở năm mẫu helicobacter pylori trên bệnh nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 3

Tác giả: Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma

Võ Thị Chi Mai, Bùi Xuân Trường, Hoàng Hoa Hải, Takeshi Azuma Chủng Helicobacter pylori (H.pylori) mang gen cagA có khả năng gây tổn thương viêm teo và ung thư thư dạ dày cao hơn so với chủng không mang gen cagA. Mục tiêu: Tiến hành giải trình tự toàn bộ gen cagA và bước đầu phân tích, phân loại protein CagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu bao gồm 5 mẫu H.pylori ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh. H.pylori được nuôi cấy và làm PCR để xác định trước khi tiến hành giải trình tự gen toàn bộ. Phân tích và xây dựng cây phân loại sinh học bằng các chương trình xử lý sinh học. Kết quả: chiều dài chức năng gen cagA ở chủng H.pylori trên bệnh nhân Việt Nam 3480 - 3588 nucleotid, số lượng amino acid tương ứng trên phân tử protein CagA 1159 - 1195 amino acids. Tất cả các phân tử protein CagA đều thuộc loại Đông Á. Tuy cùng thuộc loại protein CagA đông Á, chủng H.pylori ở bệnh nhân Nhật Bản và Việt Nam thuộc về hai nhóm khác nhau trên cây phân loại sinh học. Kết luận: nghiên cứu bước đầu cho thấy H.pylori protein CagA ở bệnh nhân tại thành phố Hồ Chí Minh thuộc loại đông Á.

Xem chi tiết

Tỷ lệ nhiễm HPV và các yếu tố liên quan của phụ nữ từ 18-69 tuổi tại Thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Hồ Vân Phúc, Trần Thị Lợi

Human Papillomavirus (HPV) là nguyên nhân chính gây ra ung thư cổ tử cung, một căn bệnh ác tính xếp thứ hai trong số các ung thư của phụ nữ trên toàn thế giới. Tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ tại TP HCM là bao nhiêu? Phân bố các týp HPV ra sao? Đó là những câu hỏi còn bỏ ngỏ và cũng là lý do khiến chúng tôi thực hiện đề tài nghiên cứu: “Xác định tỷ lệ nhiễm Human Papillomavirus và các yếu tố liên quan của phụ nữ trong độ tuổi từ 18 - 69 tại TP HCM”. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1550 phụ nữ 18 - 69 tuổi, đã có quan hệ tình dục sống tại thành phố Hồ Chí Minh được chọn vào nghiên cứu bằng phương pháp chọn mẫu cụm ngẫu nhiên tỷ lệ với độ lớn dân số (PPS). Mỗi phụ nữ tham gia nghiên cứu đều được phỏng vấn bằng bảng câu hỏi cấu trúc, được khám phụ khoa, làm PAP và thử nghiệm định tính, định týp HPV bằng kỹ thuật PCR Reveres Dot Blot. Kết quả: tỷ lệ nhiễm HPV ở phụ nữ sống tại TP HCM là 10,84% (164/1550) (khoảng tin cậy 95% 0,09 - 0,12), nhiễm các týp nguy cơ cao là 9,1% và týp nguy cơ thấp chiếm 1,74%, trong đó týp 16 chiếm tỷ lệ: 55,95% (94/168), týp 18 chiếm 38,1% (64/168), týp 58 là 11,13% (19/168), týp 11: 4,76%, týp 6: 3,57%, các týp khác tỷ lệ không cao. Các yếu tố liên quan được ghi nhận như: hút thuốc lá chủ động làm tăng tỷ lệ nhiễm HPV gấp đôi người không hút thuốc và tình trạng sử dụng bao cao su thường xuyên làm giảm tỷ lệ nhiễm HPV 3 lần so vói những phụ nữ không dùng hoặc dùng không thường xuyên. Kết luận: tỷ lệ nhiễm HPV của phụ nữ thành phố Hồ Chí Minh khá cao 10,84% và sự phân bố các týp HPV cũng tương tự trên thế giới.

Xem chi tiết

Nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường tại trường trung học cơ sở Lê Lai- Quận 8, TP Hồ Chí Minh năm 2009.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Lê Thị Hồng Thắm, Tô Gia Kiên

Bạo lực là vấn đề y tế công cộng toàn cầu. Tại Tp.HCM, bạo lực học đường tăng lên 13 lần so với năm trước đó. Trường Trung học cơ sở Lê Lai, Quận 8, Tp.HCM có tình hình bạo lực diễn biến phức tạp và nghiêm trọng trong mười năm gần đây. Nguyên nhân nào dẫn đến hành vi bạo lực học đường của học sinh trường THCS Lê Lai là câu hỏi mà nhiều người quan tâm. Để trả lời cho câu hỏi đó, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu là tìm hiểu nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường của những học sinh trường THCS Lê Lai quận 8 Tp.HCM năm 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu định tính thăm dò được tiến hành vào tháng 04 - 05 năm 2009 tại trường THCS Lê Lai trên các học sinh lớp 6, 7, 8, 9 có hành vi bạo lực, thầy cô và phụ huynh học sinh với 6 thảo luận nhóm có trọng tâm và 10 phỏng vấn sâu. Thông tin được thu thập bằng các bảng hướng dẫn thảo luận nhóm, phỏng vấn sâu và bảng câu hỏi tự điền. Các thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu được ghi chú, ghi âm và sau đó được giải băng từng từ một. Kết quả: bạo lực học đường là những hành vi như kết băng nhóm hăm he bạn bè, ăn hiếp người nhỏ hoặc yếu thế, hành vi trấn lột đồ - tiền của bạn khác hoặc thậm chí đánh nhau có hay không sử dụng hung khí. Đa số các đối tượng cho rằng hành vi chửi nhau và hành vi hiếp dâm không phải là bạo lực học đường. Bạo lực ảnh hưởng rất lớn đến sức khỏe của các em học sinh. Hầu hết các em có hành vi bạo lực thường sống trong môi trường có nhiều tệ nạn xã hội, gia đình nghèo và không hạnh phúc, và thiếu sự quan tâm đúng mức của gia đình, những người xung quanh và nhà trường. Nhiều em thực hiện hành vi bạo lực do đã từng chứng kiến cảnh bạo lực hay đã từng bị cha, mẹ hay những người xung quanh bạo lực. Khuyến nghị: địa phương cần tổ chức nhiều buổi truyền thông đại chúng về phương pháp giáo dục con cái cho các bậc cha mẹ . Nhà trường nên đề ra một số hình phạt cụ thể đối với từng mức độ sai phạm của các em và công khai thông báo những hình phạt đó. Nhà trường cần tổ chức những chương trình về tâm lý học sinh để thầy cô biết cách quản lý và ứng xử trước những hành vi sai phạm của các em. Nhà trường cần phải kết hợp với địa phương theo dõi và giám sát học sinh để ngăn chặn kịp thời các hành vi bạo lực.

Xem chi tiết

Hoạt động thể lực và mối liên quan với yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp ở trẻ vị thành niên thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Anh, Nguyễn Ngọc Minh, Hà Huỳnh Kim Yến, Tăng Kim Hồng

Các nghiên cứu trên thế giới cho thấy yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp đang trở thành vấn đề sức khỏe quan trọng ở trẻ vị thành niên và hoạt động thể lực có thể lảm giảm khả năng mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Vì vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này để tìm mối liên quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp, từ đó đưa ra khuyến cáo về thời gian hoạt động thể lực cho trẻ vị thành niên TPHCM. Một nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên học sinh cấp II từ 12 - 16 tuổi ở các trường nội thành TPHCM. 617 học sinh được lựa chọn theo phương pháp chọn mẫu cụm nhiều giai đoạn theo PPS (Probability Proportionate to Size). Chúng tôi khảo sát tỉ lệ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp dựa vào định nghĩa của IDF năm 2007. Máy đo gia tốc MTI Actigraph được dùng để khảo sát tình trạng hoạt động thể lực. Các số liệu được thu thập và xử lý bằng phần mềm STATA 10. Hồi qui logistic đa biến được sử dụng để tìm mối tương quan giữa hoạt động thể lực và các yếu tố nguy cơ tim mạch phối hợp. Kết quả cho thấy trẻ dành 45 phút/ ngày cho hoạt động thể lực vừa và nặng, trẻ nam dành thời gian hoạt động nhiều hơn trẻ nữ, tỷ lệ trẻ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch là 5,07%, trong đó, yếu tố cao huyết áp là thường gặp nhất (22,04%). Ngoài ra, chúng tôi tìm thấy có mối tương quan nghịch giữa thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng với YTNCTM phối hợp. Khi hoạt động thể lực càng tăng thì tỷ lệ mắc YTNCTM càng giảm với OR tương ứng ở các CI 95% của thời gian hoạt động thể lực tăng dần là 0,95 (CI 95%: 0,26-3,52); 0,90 (CI 95%: 0,21 - 3,91); 0,37 (CI 95%: 0,07-1,95); 0,18 (CI 95%: 0,04 - 0,85). Từ kết quả này thời gian hoạt động thể lực vừa và nặng cho trẻ vị thành niên là khoảng 70 phút/ ngày để làm giảm 60% nguy cơ mắc các yếu tố nguy cơ tim mạch. Tuy nhiên đối với trẻ thiếu hoạt động thể lực nên bắt đầu hoạt động thể lực vừa và nặng 50 phút/ sau đó từ từ đạt được mục tiêu là 70 phút/ ngày.

Xem chi tiết

Theo dõi dọc một năm bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS An Lạc, TP Hồ Chí Minh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Bích Vân, Hoàng Tử Hùng

Nghiên cứu thuộc dự án nghiên cứu về “các yếu tố nguy cơ sâu răng, liên kết những bằng chứng cá nhân và cộng đồng” của Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM. Mục tiêu: xác định những yếu tố thật sự làm trẻ có nguy cơ cao tăng sâu răng sau một năm để từ đó xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng trong tương lai của học sinh 12 tuổi trường THCS An Lạc quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 149 học sinh 12 tuổi được khám sâu răng theo chỉ số ICDAS và thu thập các yếu tố nguy cơ lần 1 (tháng 3/2006) và được tái đánh giá tình trạng sâu răng sau 1 năm (tháng 3/2007). Các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tích mối liên quan với sự thay đổi tình trạng sâu răng sau 1 năm gồm có: độ nhớt nước bọt, pH nước bọt không kích thích, lưu lượng nước bọt kích thích, khả năng đệm của nước bọt, số lượng Streptococcus mutans, số lượng Lactobacilli, pH mảng bám, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn của cha, trình độ học vấn của mẹ, mức thu nhập gia đình, chế độ ăn có đường và axít giữa các bữa ăn chính, số lần chải răng, sang thương sâu răng mới chớm (đốm trắng/ nâu), có sâu răng đến ngà ban đầu. Kết quả: tình trạng sâu răng được đánh giá ở 2 ngưỡng chẩn đoán khác nhau: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ % sâu răng là 67,1% và số trung bình S3MT MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ % sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12. Về sự gia tăng sâu răng sau 1 năm, ở mức S1, sau 1 năm có 81,2% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 4,6 mặt răng sâu mới; ở mức S3 có 49% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 1,09 mặt răng sâu mới. Khi phân tích mối liên quan giữa từng yếu tố với sự phân bố tỷ lệ % trẻ không tăng sâu răng (DS3MT - MR = 0) và tăng sâu răng cao (DS3MT-MR ≥ 2) kết quả cho thấy có 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa: pH nước bọt không kích thích, yếu tố khả năng đệm của nước bọt, yếu tố pH mảng bám, yếu tố VSRM và yếu tố có sang thương sâu đến ngà ban đầu. Khi phân tích hồi quy đa yếu tố, chỉ có hai yếu tố là yếu tố “Khả năng đệm của nước bọt không tốt” (p = 0,023) và yếu tố “Có sang thương sâu đến ngà ban đầu” (p < 0,001) là 2 yếu tố nguy cơ thực sự làm trẻ có nguy cơ tăng tối thiểu 2 mặt răng sâu sau một năm. Xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng bao gồm 2 yếu tố: khả năng đệm của nước bọt không tốt và có sang thương sâu đến ngà ban đầu đạt được khả năng tiên đoán sâu răng rất cao với độ nhạy là 100%, độ chuyên 95,5%, PV(+) là 86,7% và PV(-) là 100%. Kết luận: nghiên cứu đã xây dựng được 1 mô thức tiên đoán sâu răng có giá trị tiên đoán sâu răng cao. Khuyến nghị: cần đánh giá cả sang thương sâu răng sớm để tránh ước lượng dưới tình trạng sâu răng. Chiến lược dự phòng sâu răng nên tập trung vào nhóm có nguy cơ sâu răng cao cụ thể là nhóm trẻ đang có sang thương sâu ngà trong miệng.

Xem chi tiết