Kết quả sớm nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ từ 0 – 24 tháng tuổi

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Phạm Hữu Hoà, Lê Hồng Quang

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả sớm nong van ĐMP bằng bóng qua da ở trẻ từ 0 - 24 tháng tuổi bị hẹp van ĐMP đơn thuần trong năm 2009 và 2010 tại bệnh viện Nhi Trung ương. Kết quả nghiên cứu cho ta thấy chênh áp tối đa qua van động mạch phổi trên siêu âm Doppler giảm từ 84,24 ± 28,92 mmHg xuống 20,50 ± 16,35 mmHg (p < 0,001) và biên độ mở van động mạch phổi tăng từ 3,71 ± 1,12 mm đến 8,56 ± 2,77 mm (p < 0,05). Chênh áp tâm thu tối đa giữa động mạch phổi và thất phải đo trên thông tim giảm từ 72,55 ± 27,30 mmHg xuống 14,68 ± 11,48 mmHg (p < 0,001). Có một bệnh nhi tái hẹp van động mạch phổi. Kết quả sớm của phương pháp điều trị nong van động mạch phổi bằng bóng qua da là rất tốt. Tỷ lệ bệnh nhi tái hẹp sau nong van động mạch phổi bằng bóng qua da là 2,6%. Tất cả bệnh nhân sau nong van có hở van động mạch phổi mức độ nhẹ. Từ khoá: Nong van động mạch phổi bằng bóng qua da ở trẻ em; hẹp van động mạch phổi ở trẻ em

Xem chi tiết

Tỷ lệ thụ tinh và các yếu tố ảnh hưởng đến kỹ thuật tiêm tinh trùng vào bào tương noãn bằng tinh trùng lấy từ mào tinh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Hồ Sỹ Hùng, Trần Thị Phương Mai

Kỹ thuật thụ tinh trong ống nghiệm cổ điển thực hiện bằng cách ủ tinh trùng với noãn trong tủ cấy 370C, nồng độ CO2 5%, tuy nhiên để có thể thụ tinh bình thường thì mẫu tinh trùng phải đảm bảo về số lượng và chất lượng. Các mẫu tinh trùng kém đặc biệt là mẫu tinh trùng lấy từ mào tinh không có khả năng thụ tinh một cách tự nhiên mà bắt buộc phải cho thụ tinh bằng phương pháp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá tỷ lệ thụ tinh các trường hợp tiêm tinh trùng vào bào tương noãn bằng tinh trùng trích xuất từ mào tinh và một số yếu tố ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy tuổi trung bình của vợ là 28,68 + 4,12 năm, của chồng là 30,2 + 3,26 tuổi, số năm vô sinh trung bình là 4,72 + 4,20 tuổi. Số noãn trung bình là 6,93 + 3,27 (520 noãn), số phôi là 5,11 + 3,09 (383 phôi). Tỷ lệ thụ tinh là 73,65%. Tóm lại, tỷ lệ thụ tinh trong nghiên cứu là 73,65%. Tuổi người vợ và thời gian vô sinh không ảnh hưởng đến tỷ lệ thụ tinh nhưng thời gian vô sinh có ảnh hưởng đến chất lượng phôi chuyển.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của tràn dịch màng phổi do ung thư phổi nguyên phát

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Thanh Mai, Ngô Quý Châu

Đây là nghiên cứu tiến cứu 50 BN bị tràn dịch màng phổi do ung thư phổi - màng phổi nguyên phát điều trị nội trú tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2002 đến hết tháng 11/2003, 62% BN nam, 38% BN nữ, tuổi trung bình là 57,9 + 14,4. Bệnh khởi phát từ từ trên 4 tuần ở 70% BN. Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp là: Đau ngực 92%, khó thở 68%, ho khan kéo dài 52%; ho máu 16%. Hội chứng ba giảm gặp 100% ở các trường hợp. Tràn dịch bên phải (60%) nhiều hơn bên trái (36%), 4% BN có TDMP hai bên. Tỷ lệ thấy tế bào ung thư trong dịch màng phổi là 30% và trên mảnh sinh thiết màng phổi là 58,1%. CLVT là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cho phép ta xác định dịch màng phổi ở cả các trường hợp ít dịch, xác định được những thương tổn của phổi, trung thất nhỏ, kín đáo mà trên phim X - quang thường không thấy được. Phát hiện u phổi 68,9% so với X-quang thường 6%, phát hiện xâm lấn hạch trung thất (41,4%) so với X-quang thường 0%.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng của đào tạo cấp cứu nhi đến vận chuyển cấp cứu từ tuyến tỉnh đến bệnh viện nhi trung ương

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Lê Thanh Hải, Lê Xuân Ngọc

Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của đào tạo cấp cứu đến vận chuyển cấp cứu từ tuyến tỉnh đến bệnh viện Nhi Trung ương. Khảo sát lần 1: 100% trường hợp không liên hệ trước khi chuyển. Một cán bộ vận chuyển chiếm 89% với 81% là điều dưỡng. 84% cán bộ chưa được đào tạo cấp cứu nhi, trên 70% không biết xử trí cấp cứu. Tỉ lệ tử vong trên đường vận chuyển là 4,7%. Khảo sát lần 2: 70% có liên hệ trước khi chuyển viện, 35% cán bộ được đào tạo cấp cứu. Kỹ năng cấp cứu hô hấp, tuần hoàn và theo dõi bệnh nhi đã được cải thiện. Từ những kết quả trên rút ra kết luận hầu hết các trường hợp vận chuyển cấp cứu là không an toàn. Đào tạo cấp cứu nhi đã góp phần nâng cao chất lượng vận chuyển cấp cứu của tuyến tỉnh. Từ khóa: Vận chuyển cấp cứu

Xem chi tiết

Đánh giá ảnh hưởng của nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG đến kết quả thụ tinh trong ống nghiệm

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 01

Tác giả: Nguyễn Xuân Hợi

Nghiên cứu được thực hiện nhằm xác định mối liên quan giữa nồng độ progesteron tại ngày tiêm hCG và tỷ lệ có thai lâm sàng thụ tinh trong ống nghiệm và đánh giá các yếu tố liên quan đến tăng nồng độ progesterone, phân tích liên quan tương tác của nồng độ progesterone và các yếu tố khác đến tỷ lệ có thai lâm sàng. Nghiên cứu hồi cứu trên 1395 trường hợp IVF/ICSI được thực hiện tại bệnh viện Phụ sản Trung ương từ tháng 1 năm 2010 đến tháng 5 năm 2012. Tuổi ≤ 38; FSH ≤ 10 IU/L; chuyển phôi ngày 2 – 3; phcs đồ dài, ngắn và antagonist. Loại trừ các trường hợp cho hận noãn; các trường hợp PESA/ICSI. Kết quả cho thấy nồng độ progesterone trung bình cao hơn có ý nghĩa thống kê ở nhóm không có thai (0,88 ± 0,77 so với 0,76 ± 0,65). Khi progesterone tăng > 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai thấp hơn có ý nghĩa thống ke so với nồng độ progesterone ≤ 1,5 (21,6% so với 30,7%). Tỷ lệ progesterone tăng > 1,5 ng/ml trong kích thích buồng trứng là 9%. Với ngưỡng progesterone ≤ 1,5 ng/ml thì tỷ lệ có thai lâm sàng cao hơn 1,63 lần và tỷ lệ làm tổ cao hơn 1,53 lần so với ngưỡng progesterone > 1,5 ng/ml. Progesterone tăng vào ngày tiêm hCG liên quan đến tỷ lệ có thai lâm sàng thấp hơn

Xem chi tiết

HÌNH ẢNH LÂM SÀNG, CẬN LÂM SÀNG Ở BỆNH NHÂN CÓ TỔN THƯƠNG RÒ THỰC QUẢN, KHÍ QUẢN, MÀNG PHỔI - TRUNG THẤT ĐIỀU TRỊ TẠI KHOA HÔ HẤP BỆNH VIỆN BẠCH MAI

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 5

Tác giả: Hoàng Hồng Thái

Rò thực quản - khí quản (RTQ - KQ), màng phổi, trung thất là một bệnh khá hiếm gặp trong lâm sàng bệnh lý hô hấp. Tại khoa Hô hấp Bệnh viện Bạch Mai, thời gian gần đây có một số trường hợp trên Xquang, CT ngực nghi có rò thực quản - khí quản vào màng phổi, trung thất đã được xác định rõ nguyên nhân. Mục tiêu: (1). Mô tả triệu chứng lâm sàng, cận lâm sàng và phương pháp điều trị khả thi của bệnh rò thực quản - khí quản - màng phổi, trung thất. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu mô tả 3 bệnh nhân đều là nam giới, tuổi thấp nhất 45 tuổi cao nhất 58 tuổi. Kết quả: 1 bệnh nhân phát hiện có rò thực quản tạo thành ổ áp xe chèn ép khí quản gây khó thở đã được can thiệp ngoại khoa. 1 trường hợp có mủ màng phổi, xác định được lỗ rò và đã phẫu thuật cắt nối thực quản. 1 trường hợp có rò thực quản - khí quản vào trung thất sau do ung thư loại carcinome epidermoide, được mở thông dạ dày nuôi dưỡng. Kết luận: rò thực quản - khí quản, màng phổi trung thất là bệnh cấp cứu có tính chất nội - ngoại khoa. Mở thông dạ dày để nuôi dưỡng là giải pháp điều trị tạm thời. Nếu có điều kiện, nên đặt 2 stents (cho đường tiêu hoá và đường hô hấp).

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết