Xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Hằng, Trần Thúy Nga

Nghiên cứu nhằm xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính. Kết quả cho thấy chương trình Thi trắc nghiệm đã được áp dụng để tổ chức thực hiện việc thi hết môn Tin học cho tất cả các đối tượng: Sinh viên Y1, Cao học, CKI, CKII, CNĐDTC,… từ năm học 2009 -2010 đến nay. Chương trình đã đáp ứng được các tiêu chí: câu hỏi bao phủ chương trình, điểm thi phân loại được sinh viên. Chương trình thi trắc nghiệm trên máy tính ra đời đã giải quyết được phần lớn những khó khăn, vất vả trong việc thi cử. Ngoài ra, chương trình cũng đảm bảo tính công bằng, khách quan và giảm bớt tiêu cực trong thi cử.

Xem chi tiết

Đánh giá áp lực dương tính cuối thì thở ra

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Dụ

Kết quả đo PEEP nội sinh ở 27 bệnh nhân thở máy bằng phương pháp bịt đường thở ra của máy thở ở cuối thì thở ra cho thấy: - 4 bệnh nhân suy hô hấp cấp tiến triển (ARDS) có mức PEEP nội sinh là 10,25 ± 2,05 cmH2O - 6 bệnh nhân bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) có PEEP nội sinh là 12,83 ± 4,98 cmH2O - 7 bệnh nhân hen phế quản nặng có PEEP nội sinh là 20,29 ± 7,21 cmH2O - 10 bệnh nhân bị bệnh thần kinh cơ có PEEP nội sinh là 5,2 ± 4,07 cmH2O Để điều trị PEEP nội sinh ở các bệnh nhân ARDS, COPD và hen phế quản nặng, chúng tôi dùng PEEP ngoài ở mức bằng 1/2 auto-PEEP. Kết quả cho thấy mức PEEP nội sinh sau điều trị đã giảm xuống còn 7 ± 2,31 ở bệnh nhân ARDS; 7 ± 2,31 ở bệnh nhân COPD và 9,71 ± 1,67 cmH2O ở bệnh nhân hen phế quản nặng. Đặt mức PEEP ngoài bằng 50% PEEP nội sinh đảm bảo an toàn và không làm xấu thêm tình trạng căng phổi quá mức ở các bệnh nhân nghiên cứu.

Xem chi tiết

Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Nguyễn Thị Nga

Ra đề thi là một khâu rất quan trọng trong việc đánh giá kết quả học tập. Xây dựng được cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và tạo lập đề thi ngẫu nhiên sẽ đảm bảo tính khách quan trong quá trình ra đề thi, bao quát nội dung chương trình, nhanh chóng, thuận tiện cũng như đảm bảo tính bí mật của đề thi, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo. Mục tiêu: Xây dựng phần mềm tạo lập đề thi ngẫu nhiên trên giấy dựa trên cấu trúc ngân hàng đề chuẩn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mẫu đề của các bộ môn, đơn vị, các quy chế thi cử và yêu cầu về đề thi nghiệm trên giấy để xây dựng cấu trúc ngân hàng đề chuẩn và phần mềm tạo lập đề thi trắc nghiệm. Kết quả: Chương trình tạo đề thi ngẫu nhiên đã được áp dụng để ra đề thi tuyển sinh sau đại học môn Toán (Cao học, nghiên cứu sinh, Bác sĩ nội trú bệnh viện) từ năm học 2004 đến nay, đáp ứng tốt các yêu cầu đặt ra. Kết luận: Phần mềm này được thực hiện dễ dàng đảm bảo tính khách quan, khoa học trong quá trình ra đề và đã phần nào giải quyết được những khó khăn, vất vả trong khâu ra đề thi.

Xem chi tiết

Kiến thức về bệnh tiêu chảy và thực hành vệ sinh môi trường của người dân tại thị trấn Chúc Sơn, ngoại thành Hà Nội

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 2

Tác giả: Phạm Duy Tường, Đàm Thị Thúy Hà

Nghiên cứu nhằm đánh giá kiến thức về bệnh tiêu chảy và vệ sinh môi trường của người dân tại xã Chúc Sơn năm 2009. Thiết kế nghiên cứu cắt ngang mô tả với cỡ mẫu 384 đối tượng là người nội trợ chính trong gia đình. Kết quả cho thấy kiến thức về đường lây truyền bệnh tiêu chảy do tả từ người bệnh sang người lành là 89%, từ chất thải người bệnh - ruồi - thực phẩm - người lành 90,4% và 38,0% người dân không biết đường lây từ chất thải người bệnh đên nước - thực phẩm - người lành. Phần lớn các ý kiến cho rằng mắm tôm, thịt chó là nơi chứa nguồn bệnh nhiều nhất (90,4%), rau sống lá mơ (77,3%), tiết canh (25,8%). Thực hành vệ sinh môi trường: Rác thải từ các hộ gia đình được xe chở rác lấy đi 97,4%, rác vứt ra vườn và đốt rác 2,6%. Nước thải thoát ra hệ thống cống chung 92,7%, nước thải thoát ra ao 7,3%. Số liệu là cơ sở cho việc thiết kế can thiệp giáo dục truyền thông cho người dân

Xem chi tiết

Thực trạng kiến thức các chủ cửa hàng ăn về vệ sinh an toàn thực phẩm thức ăn đường phố tại thị trấn Xuân Mai - năm 2008

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Trần Thị Hương Giang, Đỗ Thị Hòa

Mục tiêu: mô tả thực trạng kiến thức vệ sinh an toàn TAĐP của chủ các cửa hàng ăn tại thị trấn Xuân Mai Hà Nội, năm 2008. Đối tượng nghiên cứu: là toàn bộ các chủ cửa hàng kinh doanh ăn uống tại thị xã Xuân Mai Chương Mỹ Hà Nội với mô hình nghiên cứu cắt ngang trong thời gian từ tháng 4 đến 10/2008. Kết quả và Kết luận: kiến thức về sự tồn tại của vi khuẩn; sử dụng phụ gia thực phẩm, dùng dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và chín, và tác dụng của bày bán thực phẩm trong tủ kính của các chủ cơ sở là tương đối tốt, đạt trên 80%. Kiến thức về nơi chế biến thực phẩm, tác dụng của bảo hộ lao động và nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm chưa đầy đủ. Tỷ lệ chủ các cơ sở có kiến thức chung về đảm bảo VSATTP đạt 59,2%.

Xem chi tiết

Thực trạng kỳ thị và mối liên quan với hành vi tình dục nguy cơ ở nam bán dâm đồng giới

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Minh Giang, Vũ Đức Việt, Nguyễn Minh Sang, Trương Văn Hải

Kỳ thị, đặc biệt với các nhóm nguy cơ cao, là một thách thức lớn trong phòng chống HIV/AIDS. Nghiên cứu mô tả cắt ngang về thực trạng kỳ thị và mối liên quan với hành vi tình dục nguy cơ của 195 nam bán dâm đồng giới ở Hà Nội trong năm 2015. Kết quả cho thấy phần lớn đối tượng nghiên cứu có sự tự kỳ thị, có biểu hiện tự ti, xấu hổ và thậm chí cảm thấy nhục nhã với việc bán dâm đồng giới, trong đó 37,9% tự kỳ thị ở mức độ cao. Mức độ bị kỳ thị không cao, trong đó việc bị gia đình từ chối và sợ đến cơ sở y tế khám chữa bệnh do e ngại cán bộ y tế kỳ thị là phổ biến nhất. Đối tượng bị người khác kỳ thị ở mức độ cao có mức độ hành vi quan hệ tình dục nguy cơ cao gấp 3,1 lần (OR:3,1; 95%CI:1,1 - 8,9) so với đối tượng không bị kỳ thị. Cần quan tâm đến hoạt động can thiệp làm giảm kỳ thị đối với tình dục đồng giới nói chung và bán dâm đồng giới nói riêng.

Xem chi tiết

Xây dựng phương pháp định lượng thuỷ ngân trong một số mỹ phẩm dạng kem bôi da bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Vũ Quang, Đỗ Thị Thanh Thủy, Thái Nguyễn Hùng Thu, Lê Thị Hường Hoa, Lê Đình Chi

Theo Hiệp định hòa hợp quản lý mỹ phẩm của ASEAN năm 2003, thủy ngân và các hợp chất có chứa thủy ngân không được phép có mặt trong mỹ phẩm. ASEAN cũng đưa ra giới hạn cho phép với thủy ngân là 0,5ppm. Mục tiêu: đưa ra một quy trình xác định hàm lượng thủy ngân có thể có trong một số đối tượng mẫu mỹ phẩm mà trước mắt là dạng kem bôi da phải đảm bảo độ đặc hiệu, độ nhạy cao, đáp ứng được giới hạn phát hiện mà phương pháp ASEAN đã quy định và có khả năng thực hiện được với những thiết bị hiện có để kiểm tra hàm lượng thủy ngân trên một số mẫu mỹ phẩm đang lưu hành trên thị trường Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu: 6 mẫu mỹ phẩm dạng kem bôi da được mua trên thị trường (mã hóa M1-M6). Dung dịch chuẩn thuỷ ngân 1000mg/ml (J.T.Baker, Mỹ). Máy quang phổ hấp thụ nguyên tử Z-5000 (Hitachi, Nhật Bản) được trang bị bộ dụng cụ phân tích thuỷ ngân chuyên dụng "A.A- Mercury Reduction Unit". Phương pháp nghiên cứu: Xử lý mẫu bằng kỹ thuật vô cơ hoá ướt trong thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng. Quy trình đo thủy ngân bằng phương pháp hoá hơi lạnh ở nhiệt độ thường cho phép loại bỏ hoàn toàn ảnh hưởng của nền mẫu. Kết quả thực nghiệm và bàn luận: xác định điều kiện vô cơ hóa mẫu: Chương trình nhiệt độ cho thiết bị vô cơ hóa mẫu bằng vi sóng với hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxid 30%. Sau khi vô cơ hóa trong thiết bị xử lý mẫu bằng vi sóng, thêm dung dịch kali permanganat 5% để ổn định toàn lượng thủy ngân có trong mẫu về dạng Hg2+để chuẩn bị sẵn sàng cho quá trình khử hóa Hg2+ về Hg0 ở dạng hơi để phân tích toàn lượng bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử. Phương pháp được thẩm định về độ lặp lại, độ đúng, với LOD là 30ng và LOQ là 100ng thủy ngân tính theo tổng lượng thủy ngân có trong phần mẫu đem phân tích. Kết quả phân tích 6 mẫu cho thấy 2 mẫu (M2 và M3) có chứa thủy ngân. Hàm lượng thủy ngân đã xác định được trong mẫu M2 là 29,9ppm và trong mẫu M3 là 1,4ppm, đều cao hơn mức độ khuyến cáo trong phương pháp hòa hợp của ASEAN là 0,5ppm. Tuy số lượng mẫu khảo sát còn ít nhưng cho thấy nguy cơ lạm dụng thủy ngân trong mỹ phẩm dạng kem bôi da là rất tiềm ẩn nên cần khảo sát rộng hơn để có kết luận chính thức và có biện pháp kiểm soát chặt chẽ mỹ phẩm về tiêu chí này. Kết luận: quy trình định lượng thủy ngân trong mỹ phẩm bằng quang phổ hấp thụ nguyên tử với quá trình vô cơ hóa mẫu được thực hiện trong lò vi sóng sử dụng hỗn hợp acid nitric 65% và hydroperoxyd 30%. Quá trình phân tích thủy ngân được thực hiện bằng phương pháp nguyên tử hóa lạnh sử dụng đèn cathod rỗng thủy ngân ở bước sóng 253,7nm và dung dịch SnCl210% làm tác nhân khử. Quy trình đã được áp dụng kiểm tra thủy ngân trong 6 mẫu kem bôi da, kết quả đã phát hiện 2 mẫu có hàm lượng thủy ngân cao hơn giới hạn quy định của phương pháp hòa hợp ASEAN (0,5ppm).

Xem chi tiết