Kiến thức thực hành chăm sóc trong và sau sinh của các bà mẹ có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Lào 2010

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 2

Tác giả: Khamphanh Prabouasone, Ngô Văn Toàn, Lê Anh Tuấn, Bùi Văn Nhơn

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả kiến thức và thực hành chăm sóc trong và sau sinh của các bà mẹ có con nhỏ dưới 2 tuổi tại tỉnh Bo Lị Khăm Xay, Lào năm 2010. Kết quả cho thấy kiến thức chăm sóc trong và sau sinh còn thấp: tỷ lệ bà mẹ biết về các dấu hiệu nguy hiểm xảy ra trong và sau sinh thấp, khoảng 1/2 số bà mẹ không biết dấu hiệu nguy hiểm có thể xảy ra trong và sau sinh; 59,0% bà mẹ có kiến thức về cho trẻ bú lần đầu tiên trong vòng một giờ sau sinh. Thực hành chăm sóc trong và sau sinh chưa tốt: 54,7% bà mẹ sinh con tại cơ sở y tế; 56,3% bà mẹ được nhân viên y tế đỡ đẻ trong lần sinh vừa qua; 56,1% bà mẹ cho trẻ bú lần đầu tiên trong vòng 1 giờ đầu ngay sau sinh và chỉ có 25,3% bà mẹ đi khám lại trong vòng 42 ngày sau sinh. kiến thức và thực hành chăm sóc trong và sau sinh của các bà mẹ còn chưa tốt.

Xem chi tiết

Phẫu thuật u tủy sống

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Công Tô

U tủy là bệnh lý không thường gặp nhưng có thể để lại di chứng nặng nề hay tàn phế. Phẫu thuật là phương pháp điều trị chủ yếu nhằm loại bỏ khối u giải phóng chèn ép rễ, tủy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến hành trên 41 bệnh nhân được phẫu thuật u tủy từ năm 2003 - 2008 tại khoa phẫu thuật thần kinh, bệnh viện Xanh Pôn. Tất cả các bệnh nhân đều được chụp cộng hưởng từ trước mổ. Dấu hiệu lâm sàng trước, sau mổ được đánh giá theo phân loại Nurick. Kết quả: các bệnh nhân có độ tuổi từ 9 - 74 tuổi, trong đó hay gặp nhất là từ 20 - 50 tuổi. 73,1% bệnh nhân đến viện khi đã có dấu hiệu chèn ép tủy rõ trên lâm sàng. Khối u xuất hiện chủ yếu ở phần cột sống ngực (58,5%) và nằm ở dưới màng cứng - ngoài tủy (61%). Phẫu thuật cắt cung sau (laminectomy) được áp dụng cho 87,8% trường hợp. Ngoài ra, các phương pháp khác như cắt nửa cung sau (hemilaminectomy) và mở cung sau rồi đặt lại mảnh xương (osteoplastic laminotomy) cũng đã được thực hiện. U rễ thần kinh và u màng não là hai loại u chiếm tỷ lệ cao (51,2% và 24,3%). Sau phẫu thuật có 35/41 trường hợp có kết quả hồi phục. Hai trường hợp tái phát sau mổ, 1 trường hợp nhiễm khuẩn nông và 1 bệnh nhân tử vong do di căn ung thư tiền liệt tuyến. Kết luận: phẫu thuật u tủy cho kết quả tốt, các phương pháp mổ ít xâm phạm ngày càng được áp dụng.

Xem chi tiết

Phẫu thuật u vùng tuyến tùng

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Đồng Văn Hệ

Mục tieu:đánh giá kết quả phẫu thuật u vùng tuyến tùng bằng đường mổ trên lều - cắt lều tiểu não.Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả tiến cứu dựa trên 125 bệnh nhân u vùng tuyến tùng được phẫu thuật bởi chính tác giả. Đánh giá sự thành công của kỹ thuật: lấy hết u, lấy gần hết u, lấy một phần u, sinh thiết và không lấy được u. Đánh giá sự thành công của phương pháp dựa vào tỷ lệ sống, chết, biến chứng. Đánh giá ưu nhược điểm của đường mổ trên lều - cắt lều tiểu no. Kết quả: cả 125 bệnh nhân đều tiếp cận, bộc lộ và lấy được khối u. Lấy hết u ở 79/125 bệnh nhân (63,2%), lấy gần hết u 45/125 (36%) và lấy một phần khối u 1/125 (0,8%). Chết 1/125 bệnh nhân (0,8%), biến chứng 7/125 (5,6%) bao gồm liệt nửa người, nhiễm trùng và chảy mủ. U ác tính 76 (60,8%) và u lành 49 (39,2%). điều trị tia xạ 65/76 bệnh nhân (85,5%). Kiểm tra sau mổ 6 tháng 50 bệnh nhân và 50 (100% với karnofsky > 70). Đường mổ trên lều - cắt lều tiểu não áp dụng được cho mọi loại khối u vì thăm dị rộng ri, kiểm sóat được cấu trúc giải phẫu xung quanh. Kết luận: đường mổ trên lều - cắt lều tiểu não l đường mổ an tòan, hiệu quả và có thể áp dụng với nhiều loại u vùng tuyến tùng.

Xem chi tiết