Thực trạng hoạt động y tế trường học tại quận Thanh Xuân năm 2009

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trần Thị Kim Oanh, Chu Văn Thăng, Lê thị Thanh Xuân

Nghiên cứu được tiến hành tại 7 trường phổ thông thuộc quận Thanh Xuân - Hà Nội. Mục tiêu: mô tả thực trạng hoạt động về y tế trường học (YTTH) tại các trường phổ thông quận Thanh Xuân năm học 2008 - 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: áp dụng nghiên cứu cắt ngang (định tính và định lượng) để phỏng vấn 834 học sinh trường tiểu học (TH), trung học cơ sở (THCS) và trung học phổ thông (THPT) tại 7 trường nghiên cứu theo bộ câu hỏi. Toàn bộ báo cáo, số liệu sổ sách về hoạt động YTTH tại các trường phổ thông điều tra cũng được thu thập. Kết quả: các hoạt động đã và đang thực hiện là giáo dục sức khỏe, tổ chức các hoạt động YTTH (khám sức khỏe định kỳ, sơ cấp cứu ban đầu, triển khai các chương trình CSSK ban đầu) tuy nhiên các hoạt động này không thường xuyên nên mới đạt ở hiệu quả nhất định. Hoạt động theo dõi sức khỏe học sinh chưa được thực hiện ở tất cả các trường. Tỷ lệ học sinh trả lời có hồ sơ theo dõi sức khỏe tại trường THPT cao hơn khối tiểu học và THCS. Trong đó, tỷ lệ cao nhất là học sinh lớp 12 (26,7%), khối 11 (22,6%) và lớp 3 (15,5%). Không có em học sinh lớp 8 nào nói rằng có hồ sơ theo dõi sức khỏe tại trường. Kết luận: cần đẩy mạnh hoạt động Y tế trường học tại quận Thanh Xuân, nhất là hoạt động theo dõi sức khỏe học sinh và chất lượng các hoạt động đã thực hiện.

Xem chi tiết

Thực trạng kiến thức các chủ cửa hàng ăn về vệ sinh an toàn thực phẩm thức ăn đường phố tại thị trấn Xuân Mai - năm 2008

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Trần Thị Hương Giang, Đỗ Thị Hòa

Mục tiêu: mô tả thực trạng kiến thức vệ sinh an toàn TAĐP của chủ các cửa hàng ăn tại thị trấn Xuân Mai Hà Nội, năm 2008. Đối tượng nghiên cứu: là toàn bộ các chủ cửa hàng kinh doanh ăn uống tại thị xã Xuân Mai Chương Mỹ Hà Nội với mô hình nghiên cứu cắt ngang trong thời gian từ tháng 4 đến 10/2008. Kết quả và Kết luận: kiến thức về sự tồn tại của vi khuẩn; sử dụng phụ gia thực phẩm, dùng dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và chín, và tác dụng của bày bán thực phẩm trong tủ kính của các chủ cơ sở là tương đối tốt, đạt trên 80%. Kiến thức về nơi chế biến thực phẩm, tác dụng của bảo hộ lao động và nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm chưa đầy đủ. Tỷ lệ chủ các cơ sở có kiến thức chung về đảm bảo VSATTP đạt 59,2%.

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng và tỉ lệ nhiễm HPV của u nhú thanh quản người lớn

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Lương Thị Minh Hương

Đặc điểm lâm sàng và tỉ lệ nhiễm HPV trong u nhú thanh quản người lớn vẫn là vấn đề còn đang tranh luận bởi các nhà chuyên môn TMH. Muc tiêu: Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và tỉ lệ nhiễm HPV của u nhú thanh quản người lớn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang 32 bệnh nhân u nhú thanh quản được phát hiện lần đầu trên 15 tuổi và có kết quả mô bệnh học là u nhú TQ được điều trị tại bệnh viện Tai Mũi Họng Trung Ương từ 9/2009 đến 7/2010. Kết quả: Tuổi mắc bệnh trung bình là 44,5 ± 12,4 , tỉ lệ nam/nữ là 3,5/1. Khàn tiếng gặp 100%, khó thở kèm khàn tiếng 31,25%. Thường gặp u ở tầng thanh môn 81,25%. Chủ yếu là dây thanh 78,12%. Tỷ lệ nhiễm HPV là 53,13%, số nhiễm HPV thời gian diễn biến kéo dài hơn, tỉ lệ ung thư hóa 1/32. Kết luận: UNTQ người lớn triệu chứng chính là khàn tiếng, khó thở ít gặp, chủ yếu u nhú ở tầng thanh môn, tỉ lệ nhiễm HPV không cao, có khả năng ung thư hóa.

Xem chi tiết

Bài giảng Bệnh học Nội khoa – ĐH Y Khoa Phạm Ngọc Thạch

Chủ biên: BM Nội - ĐH Y PNT

Nhà xuất bản: ĐH Y Phạm Ngọc Thạch

Năm xuất bản: 2011

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời giới thiệu

Bài giảng Bệnh học Nội khoa do tập thể các bộ môn Nội thuộc trường Đại học Y khoa Phạm Ngọc Thạch biên soạn, nhằm phục vụ tài liệu tham khảo chủ yếu cho các đối tượng sinh viên Y đa khoa, và các đối tượng sau đại học. Sách gồm tổng cộng 57 bài được chia thành các phần như sau:

Xem chi tiết

Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E

Tên hướng dẫn: PGS.TS Lê Ngọc Thành

Tên tác giả: PHẠM THÀNH ĐẠT

Bệnh van hai lá là bệnh lý van tim hay gặp nhất, chủ yếu gồm các bệnh van mắc phải - chiếm khoảng 40% [1], do nhiều nguyên nhân khác nhau: thấp tim, viêm nội tâm mạc (Osler), thoái hoá…trong đó ở Việt Nam, bệnh van hai lá do thấp rất phổ biến [2] [3].
Bệnh van hai lá bao gồm ba thể bệnh chính: hẹp van đơn thuần, hẹp-hở van, hở van đơn thuần [4]. Tiến triển tự nhiên của bệnh van hai lá (suy tim, tăng áp lực ĐMP…) nếu không được can thiệp là tử vong ở độ tuổi trung bình từ 40 đến 50 [5] [6] [7], vì vậy cần phải chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời nhằm kéo dài, nâng cao chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân.
Điều trị nội khoa giúp cải thiện triệu chứng cơ năng, nhưng không giải quyết được nguyên nhân. Các phương pháp như tách hẹp van tim kín, nong van bằng bóng qua da nhằm kéo dài thời gian và điều trị tạm thời tuy nhiên còn những hạn chế về mặt chỉ định [5] [6] [8] [9].
Trong các phương pháp điều trị, phẫu thuật tim hở thay hoặc sửa van là phương pháp điều trị triệt để khi tổn thương van hai lá không có khả năng bảo tồn [10] [11].
Cùng với sự tiến bộ về phẫu thuật tim hở trên thế giới cũng như ở Việt Nam, phẫu thuật thay van hai lá đã trở thành thường quy tại các trung tâm phẫu thuật tim mạch trên cả nước.
Phương pháp thay van truyền thống mở toàn bộ đường giữa xương ức với đường mở nhĩ trái là phương pháp cơ bản từ trên 50 năm nay [12] nhờ những ưu điểm như: phẫu trường rộng, cho phép đặt ống ĐM - TM trung tâm, áp dụng cho mọi thương tổn VHL [13]. Bên cạnh đó, không thể phủ nhận rằng đây vẫn là phương pháp khá “xâm lấn”, mang đến những sang chấn trong phẫu thuật, đặc biệt ở những bệnh nhân có nhiều yếu tố nguy cơ, bệnh phối hợp [14] cũng như nhiều biến chứng như chảy máu, nhiễm trùng, viêm xương ức, tổn thương thần kinh [15].
14
Từ những năm 1990, thành công của phẫu thuật nội soi trong ngoại khoa nói chung đã thúc đẩy sự quan tâm tới các cách tiếp cận ít xâm lấn trong mổ tim. Trải qua hơn 10 năm phát triển, phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn, đặc biệt với nội soi hỗ trợ ngày càng được thực hiện nhiều hơn với những kết quả đáng ghi nhận [15].
Trong vòng vài năm trở lại đây, đã có những nghiên cứu về kết quả phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn được đăng tải trên y văn thế giới. Các nghiên cứu đều chỉ ra rằng đây là một phương pháp an toàn, tỷ lệ tử vong sau mổ thấp, giảm sang chấn, ít đau, ít chảy máu, giảm thời gian thở máy, hồi sức và nằm viện, tính thẩm mỹ cũng như giảm thiểu tỷ lệ nhiễm trùng vết mổ [15] [16] [17] [18] [19] [20] [21] [22] [23] [24] [25] [26] [27] [28].
Tại Việt Nam, phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ đã được thực hiện trong thời gian gần đây tại một số Trung tâm phẫu thuật tim mạch. Những kết quả ban đầu cho thấy phương pháp an toàn, khả thi, có thể triển khai thường quy với điều kiện trang thiết bị hiện có [29].
Tuy nhiên, phẫu thuật ít xâm lấn với nội soi hỗ trợ ở Việt Nam hiện mới được áp dụng, còn chưa phổ biến, chưa có nghiên cứu nào đánh giá đầy đủ, hệ thống về chỉ định, quy trình kỹ thuật, kết quả, cũng như khả năng ứng dụng.
Xuất phát từ các vấn đề trên đây, chúng tôi tiến hành đề tài “Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E” với hai mục tiêu sau:
1. Nhận xét đặc điểm chẩn đoán, chỉ định và quy trình phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ
2. Đánh giá kết quả sớm phẫu thuật thay van hai lá ít xâm lấn có nội soi hỗ trợ tại Trung tâm tim mạch Bệnh viện E

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ 24 - 59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2012

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Lê Hồng Phượng, Lê Thị Hương, Vũ Hồng Cương, Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu cắt ngang mô tả trên 237 trẻ từ 24 - 59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang, huyện Chiêm hóa tỉnh Tuyên Quang năm 2012 nhằm giá tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ. Kết quả cho thấy: Tỷ lệ suy dinh dưỡng chung trong nghiên cứu cao nhất là thể thấp còi (29,8%), tiếp theo là thể thiếu cân (24,9%) và thể còm (9,3%). Suy dinh dưỡng ở cả 3 thể thiếu cân, thấp còi và còm tập trung chủ yếu ở nhóm trẻ từ 48 - 59 tháng tuổi, tuy nhiên lại phân bố khá đồng đều theo giới. Số bữa chính trung bình của trẻ khoảng 3 bữa/ngày, số bữa phụ là 2,4 bữa. Khẩu phần ăn trung bình của trẻ hầu hết không đáp ứng được nhu cầu khuyến nghị về mức năng lượng, lipid, carbohydrat, vitamin A, sắt, canxi. Khẩu phần ăn của cả 3 nhóm trẻ 24 - 35, 36 - 4 7, 48 - 59 tháng tuổi đều đạt nhu cầu khuyến nghị về lượng protein. Tỷ lệ các chất sinh năng lượng trong khẩu phần là Protein/lipid/carbohydrat (P: L: C) = 16,7: 20,1: 63,2, tương đối phù hợp với nhóm tuổi này.

Xem chi tiết

Đặc điểm dịch tễ học và xu hướng lan truyền bệnh sốt xuất huyết tại Hà Nội từ năm 1998 đến 2009

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: Phụ trương số 4

Tác giả: Đỗ Thanh Toàn, Đặng Thị Tuyết Mai, Nguyễn Nhật Cảm

Sốt xuất huyết là bệnh nhiễm vi rút cấp tính, xuất hiện lần đầu tiên vào những năm 1778 - 1780 ở Châu Á, Châu Phi và Bắc Mỹ. Việt Nam là một trong 8 nước đứng đầu Đông Nam Á và trên thế giới về tỷ lệ mắc và chết do bệnh sốt xuất huyết. Đến nay, sốt xuất huyết đã là một trong 10 bệnh truyền nhiễm gây dịch có tỷ lệ lớn nhất ở nước ta. Nghiên cứu mô tả đặc điểm dịch tễ học của bệnh sốt xuất huyết trong 12 năm (1998 - 2009) tại Hà Nội nhằm tìm hiểu tình hình dịch bệnh và xác định xu hướng của dịch. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh ở nam cao hơn ở nữ, tập trung ở nhóm học sinh - sinh viên, công nhân, nhân viên văn phòng với độ tuổi chủ yếu từ 15 - 25 tuổi. Từ tháng 7 đến tháng 12 là thời điểm dịch xuất hiện nhiều nhất, trong đó tập trung cao điểm vào các tháng 9, 10 và 11. Thanh Xuân, Hoàng Mai, Đống Đa, Hai Bà Trưng là những quận mà có số ca mắc trong các năm cao nhất. Trong hầu hết các năm, dịch di chuyển với tốc độ 3 - 5 tháng sẽ lan sang hết các quận huyện của Hà Nội kể từ thời điểm bắt đầu có dịch. Trong năm 2008, 2009, xu hướng lan chính của dịch là xuất hiện tại một điểm rồi theo hướng Đông Bắc và Tây Bắc hoặc Đông Nam và Tây Nam lan sang các khu vực còn lại.

Xem chi tiết

Tạo van chống trào ngược niệu quản - bàng quang kiểu thành ngoài thanh co trong theo phương pháp tạo hình bàng quang abol - enein

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Chí Thanh

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả tạo kỹ thuật van chống trào ngược niệu quản - bàng quang kiểu thành ngoài thanh cơ trong tạo hình bàng quanh theo phương pháp Abol - Enein tại bệnh viện Việt Đức. Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 bệnh nhân (31 nam, 4 nữ) được tạo hình bàng quang theo phương pháp Abol – Enein. Chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: thời gian mổ, biến chứng trong và sau mổ, trào ngược bàng quang – niệu quản, hẹp miệng nối bàng quang niệu quản. Kết quả cho thấy tỷ lệ hẹp miệng nối bàng quang niệu quản 1,4% đơn vị miệng nối. 2,85% theo dõi hẹp, không có trường hợp nào trào ngược.Tỷ lệ giữ nước tiểu chủ động ban ngày 88,6%, ban đêm 82,9%. Phương pháp cắm niệu quản bàng quang chống trào ngược theo dạng van thành ngoài thanh cơ an toàn và hiệu quả.

Xem chi tiết

Đánh giá kết quả sau 2 năm triển khai mô hình điểm vệ sinh an toàn thực phẩm thức ăn đường phố tại thị trấn xuân mai - huyện chương mỹ - hà nội

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Đỗ Thị Hòa, Trần Thị Hương Giang

Mục tiêu: đánh giá mức độ cải thiện một số tiêu chí vệ sinh an toàn thực phẩm (VSATTP) tại các cửa hàng ăn sau hai năm triển khai mô hình điểm 2006 – 2008, tại thị trấn Xuân Mai. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang có so sánh các cửa hàng ăn và các chủ cửa hàng. Lấy mẫu có chủ đích với cỡ mẫu toàn bộ. Thu thập số liệu bằng phỏng vấn và quan sát có bảng kiểm. Đánh giá điều kiện vệ sinh cơ sở theo quyết định 41[3]. Đánh giá độ sạch của bát đĩa và kiểm tra một số thực phẩm và độ sôi của nước bằng phương pháp nhanh. Kết quả: có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê so với năm 2006 về việc sử dụng nước sạch; nơi chế biến thực phẩm cách biệt nguồn ô nhiễm, không dùng tay bốc thực phẩm; bảo quản thực phẩm riêng rẽ và có giấy chứng nhận tập huấn kiến thức VSATTP, giấy chứng nhận sức khoẻ cho chủ cơ sở và về độ sạch của bát đũa, không sử dụng hàn the cho vào thực phẩm. Kết luận: có sự cải thiện hầu hết các tiêu chí về VSATTP ở các cửa hàng ăn tại thị trấn Xuân Mai sau 2 năm triển khai mô hình VSATTP.

Xem chi tiết