Dinh dưỡng của trẻ em tiểu học ở một số xã thuộc 3 tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Bắc Ninh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Lê Danh Tuyên

Khảo sát tình trạng dinh dưỡng của học sinh từ 6 đến 9 tuổi (n=1229) ở 6 trường tiểu học vùng nông thôn nghèo thuộc 3 tỉnh Bắc Giang, Hưng Yên và Bắc Ninh, kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ có cân nặng/tuổi thấp là 30% (mức rất cao), chiều cao/ tuổi thấp là 27.5%, (mức trung bình) và cân nặng/chiều cao thấp là 9%, xếp ở mức cao về YNSKCĐ theo phân loại của WHO. Nhóm trẻ bị nhiễm KST có nguy cơ CN/T thấp và CC/T thấp cao gấp 2.74 và 2.41 lần nhóm trẻ không bị nhiễm KST và sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p <0.001, X test). Thiếu dinh dưỡng là vấn đề sức khoẻ của trẻ em tiểu học ở những vùng nông thôn nghèo. Cần phải có những biện pháp can thiệp phù hợp và có hiệu quả để cải thiện tình trạng dinh dưỡng và sức khỏe cho trẻ em tiểu học ở những vùng nông thôn nghèo.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan của trẻ em dưới hai tuổi vùng dân tộc thiểu số tại huyện Darkrong tỉnh Quảng Trị

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Thị Hương, Lưu Ngọc Hoạt

Suy dinh dưỡng ở trẻ em Việt Nam đã được nhiều nghiên cứu đề cập đến, tuy nhiên nghiên cứu sâuvề suy dinh dưỡng trên đối tượng trẻ em người dân tộc thiểu số còn rất hiếm. Mục tiêu: đánh giá tìnhtrạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 2 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu sốhuyện Darkrong, tỉnh Quảng Trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu mô tả cắtngang với cỡ mẫu 391 trẻ dưới 2 tuổi và các bà mẹ. Kết quả: tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thiếu cân là35,2% (CN/T), còi cọc là 41,9% (CC/T) và gày còm là 12,8% (CN/CC). Suy dinh dưỡng thể nhẹ (độ 1) làloại suy dinh dưỡng chính trong quần thể điều tra. Trẻ suy dinh dưỡng nặng và rất nặng chiếm 10,6%(CN/T). Tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng nửa giờ đầu sau khi sinh là 80,1%. Tỷ lệ trẻ được búmẹ hoàn toàn đến 6 tháng là 15,7%. Trong số trẻ đã được ăn bổ sung có 63 % trẻ được cho ăn bổ sungsớm trước 4 tháng tuổi. Có 41,3% và 56,6% trẻ bị tiêu chảy hoặc viêm đường hô hấp trong hai tuần vừaqua. Kết luận: suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao ở tất cả các thể. Có mối liên quan giữa suy dinh dưỡngvới trình độ học vấn của mẹ, và cân nặng sơ sinh thấp.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng và khẩu phần thực tế của trẻ 24-59 tháng tuổi tại xã Xuân Quang - Chiêm Hóa - Tuyên Quang năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Thị Hương, Lê Hồng Phượng, Nguyễn Thùy Linh, Đoàn Thị Thu Huyền, Vũ Hồng Cương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 196 trẻ từ 24 - 59 tháng tuổi bao gồm đo lường số đo nhân trắc cho trẻ, thu thập thông tin về khẩu phần của trẻ thông qua phỏng vấn 90 bà mẹ và thảo luận nhóm nhằm thu thập thông tin về những thực phẩm sẵn có ở địa phương. Kết quả cho thấy tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi 29,1% (CC/T), thể thiếu cân là 24,5% (CN/T) và thể gày còm là 14,3% (CN/CC). Khẩu phần ăn trung bình của trẻ 24 - 35 tháng đáp ứng được theo nhu cầu khuyến nghị (NCKN) về mức protein và năng lượng. Khẩu phần ăn của trẻ 36 - 59 tháng không đáp ứng đủ nhu cầu về năng lượng theo NCKN, sắt trong khẩu phần ăn của trẻ 36 - 47 tháng chỉ đạt 6,9mg/ngày thấp hơn NCKN. Hàm lượng canxi trong khẩu phần ăn của trẻ đạt 67 - 86% NCKN. Lượng lipid trong khẩu phần không đạt NCKN. Các thực phẩm sẵn có ở địa phương đều có thể cung cấp đủ 4 nhóm thực phẩm: Glucid, Protid, Lipid, vitamin và chất khoáng.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng của trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Mường, huyện Lạc Sơn - tỉnh Hòa Bình và một số yếu tố liên quan

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Lê Thị Hương, Đoàn Thị Thu Huyền, Bùi Trần Nguyệt Minh, Phạm Thị Như Hằng, Nguyễn Anh Vũ

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dân tộc Mường còn chưa nhiều. Nghiên cứu này được tiến hành trên nhóm trẻ em người Mường tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tìm hiểu các yếu tố liên quan ở trẻ em dưới 5 tuổi. Thiết kế nghiên cứu điều tra mô tả cắt ngang trên 350 trẻ em dưới 5 tuổi và các bà mẹ. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thể thấp còi (CC/T), nhẹ cân (CN/T) và gày còm (CN/CC) lần lượt là: 37,6%; 16,4% và 4,5%. Suy dinh dưỡng thể nhẹ (độ I) là loại suy dinh dưỡng chính trong quần thể điều tra. Tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng một giờ đầu sau khi sinh là 65,6%. Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng là 20,4%. Trong số trẻ đã được ăn bổ sung có khoảng 1/3 tổng số trẻ được cho ăn bổ sung trước 4 tháng tuổi. Tỷ lệ trẻ bị tiêu chảy và ho sốt trước điều tra 2 tuần lần lượt là 21,7% và 54,3%. Kết luận: Suy dinh dưỡng chiếm tỷ lệ cao ở thể thấp còi và nhẹ cân. Có mối liên quan giữa cân nặng sơ sinh thấp của trẻ và điều kiện kinh tế hộ gia đình với tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ nhỏ.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Văn Phú, Phạm Tùng Sơn

Suy dinh dưỡng trong 2 năm đầu ảnh hưởng nặng nề tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Hiện tại, các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng (TTDD) trẻ em dưới 24 tháng tuổi ở các vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống còn chưa nhiều. Mục tiêu: (1) Đánh giá TTDD của trẻ dưới 24 tháng tuổi ở một số xã có nhiều dân tộc ít người sinh sống thuộc huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. (2) Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến TTDD. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 264 cặp mẹ con được điều tra cắt ngang mô tả. Kết quả: Tỷ lệ SDD theo CN/T, CC/T, CN/CC lần lượt là 15,9%; 26,5%; 8,0%; trong đó 6,4% trẻ bị thấp còi trầm trọng. Trẻ của ông bố có học vấn dưới cấp 3 có tỷ lệ SDD nhẹ cân cao hơn hẳn so với nhóm trẻ của ông bố có học vấn = cấp 3 (p < 0,001). Trẻ của bà mẹ khi mang thai tăng đủ 10 - 12kg hoặc sau sinh được uống viên nang vitamin A 200.000 UI có tỷ lệ SDD gày còm thấp hơn so với nhóm trẻ của bà mẹ khi mang thai không tăng đủ cân hoặc sau sinh không được uống vitamin A (p < 0,05). Trẻ có mẹ bị thiếu nhiệt lượng trường diễn có tỷ lệ SDD nhẹ cân hoặc gầy còm cao hơn so với trẻ có mẹ TTDD bình thường (p < 0,05 và 0,001 lần lượt). Kết luận: Ngay trong 2 năm đầu trẻ đã bị SDD với tỷ lệ khá cao đặc biệt là SDD thể thấp còi (chung: 26,5%; trong đó 6,4% bị thấp còi trầm trọng). Trình độ học vấn của bố, tăng cân của mẹ khi mang thai, mẹ uống vitamin A sau đẻ và TTDD của bà mẹ là những yếu tố ảnh hưởng đến TTDD của trẻ.

Xem chi tiết

Kiến thức, thực hành nuôi con của các bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới hai tuổi vùng dân tộc thiểu số tại huyện Hướng Hóa tỉnh Quảng Trị năm 2010

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Lê Thị Hương, Vũ Phương Hà

Trong những năm qua tỷ lệ suy dinh dưỡng trẻ em Việt Nam đã giảm rất nhiều nhờ sự thay đổi của nền kinh tế xã hội nói chung và các can thiệp về dinh dưỡng của chương trình Dinh dưỡng quốc gia và của các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng vẫn còn khá cao ở các vùng nông thôn và miền núi. Mục tiêu: đánh giá kiến thức, thực hành dinh dưỡng của bà mẹ và tình trạng dinh dưỡng của trẻ em dưới 2 tuổi vùng đồng bào dân tộc thiểu số huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang với cỡ mẫu 376 trẻ dưới 2 tuổi và các bà mẹ. Kết quả: tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng thiếu cân là 49,7% (CN/T), thấp còi là 51,9% (CC/T) và gày còm là 15,3% (CN/CC). Tỷ lệ bà mẹ cho con bú sớm trong vòng giờ đầu sau khi sinh là 79,3%. Tỷ lệ trẻ được bú mẹ hoàn toàn đến 6 tháng chỉ là 6,9%. Trong số trẻ đã được ăn bổ sung có 82,1 % trẻ được cho ăn bổ sung sớm trước 4 tháng tuổi. Có 63,9% và 88,3% trẻ bị tiêu chảy hoặc viêm đường hô hấp trong hai tuần qua. Kết luận: tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng, nhiễm khuẩn hô hấp và tiêu chảy rất cao trong quần thể nghiên cứu. Kiến thức và thực hành nuôi con của các bà mẹ còn nhiều hạn chế đặc biệt là thực hành cho con bú hoàn toàn và ăn bổ sung.

Xem chi tiết

Hóa sinh (Sách đào tạo CNXN) – Bộ Y Tế

Chủ biên: PGS. TS. Tạ Thành Văn

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2011

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Lời giới thiệu

Thực hiện Luật Giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Y tế đã ban hành Chương trình khung đào tạo đại học ngành Y tế. Trường Đại học Y Hà Nội đã chủ động biên soạn nhiều tài liệu phục vụ cho công tác dạy và học cho các các môn khoa học cơ bản, y học cơ sở và các chuyên ngành thuộc lĩnh vực y học lâm sàng dựa trên khung chương trình trên nhằm từng bước xây dựng bộ sách chuẩn của trường phục vụ cho công tác đào tạo nguồn nhân lực y tế.

Xem chi tiết