Nghiên cứu mô bệnh học và siêu cấu trúc viêm gan virut B mạn tính

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Trần Văn Hợp, Nguyễn Văn Tuy, Nguyên Kim Giao, Dương Xuân Nhương

Các mảnh sinh thiết gan của 40 bệnh nhân viêm gan virut B mạn tính, HBsAg (+),, men ALT, AST tăng trên 2 lần bình thường được nghiên cứu mô bệnh học, và 11 trong số đó đồng thời nghiên cứu siêu cấu trúc. - Nghiên cứu mô bệnh học; các mảnh sinh thiết cố định bằng formol 10%, chuyển, vùi nến, cắt mảnh dày 3μm nhuộm HE, PAS, Gomori 3 mầu theo Masson. Đánh giá tổn thương theo thang điểm Knodell. Kết quả cho thấy hoại tử mối gạm và hoại tử bắc cầu quanh khoảng cửa chủ yếu ở mức độ nhẹ và vừa (30 và 35%), mức độ nặng và rất nặng chiếm tỉ lệ đáng kể (20 và 12,5%). Thoái hoá trong tiểu thuỳ + hoại tử ổ và viêm khoảng cửa ở mức độ vừa và nặng chiếm tỉ lệ cao (47,5 và 30%; 42,5 và 32,5%). Về phân loại viêm gan mạn nhẹ và vừa cùng tỉ lệ 37,5%; viêm gan nặng chiếm 20%, có 2 trường hợp (5%) xơ gan rõ, tăng sinh liên kết xơ nhẹ và vừa chiếm tỉ lệ đáng kể (40 và 32,5%). Các tổn thương kèm theo thường gặp là thoái hoá mỡ và ứ mật tế bào gan. - Nghiên cứu siêu cấu trúc: kỹ thuật hiển vi điện tử được thực hiện tại Phòng hiển vi điện tử Viện vệ sinh dịch tễ Trung ương Hà Nội. Đọc tiêu bản bằng kính hiển vi điện tử JM 1010, phân tích tổn thương nhân, các bào quan trong tế bào và viêm khoảng cửa. Kết quả: tổn thương ở nhân thường gặp là màng nhân dính, co rúm, nhăn nheo, chất nhân đông vón. Các bào quan giảm số lượng, tan vỡ. Khoảng cửa tăng sinh sợi tạo keo. Hình ảnh virus viêm gan B thấy ở 7/11 trường hợp.

Xem chi tiết

Xét nghiệm axit nucleic (nat) trong phát hiện sớm virus hiv, viêm gan B, viêm gan Cở người cho máu

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Nguyễn Anh Trí, Bạch Khánh Hòa, Nguyễn Quốc Cường, Chử Thị Thu Hường

Hiện nay, xét nghiệm phát hiện axit nucleic (NAT) đang được sử dụng rộng rãi ở các ngân hàng máu trên thế giới trong sàng lọc các virus gây bệnh truyền nhiễm ở đơn vị máu nhằm rút ngắn giai đoạn cửa sổ, tuy nhiên chưa được chính thức áp dụng tại các ngân hàng máu tại Việt Nam. Mục tiêu: Ứng dụng và đánh giá hiệu quả kỹ thuật NAT trong sàng lọc virus HBV, HCV, HIV ở người cho máu tại viện Huyết học – Truyền máu Trung Ương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 9392 người cho máu tại viện Huyết Học - Truyền Máu Trung Ương từ 1/2007 đến 5/2007 có kết quả âm tính HIV - 1, HBV, HCV bằng kỹ thuật ELISA. Mẫu huyết tương của những người cho máu trên được pool (cỡ pool 8) và tiến hành NAT với kit Ultrio Procleix HIV - 1, HCV, HBV (Chiron, Mỹ). Kết quả: Phát hiện 01 mẫu huyết tương người cho máu có âm tính ELISA - dương tính NAT HCV. Kết luận: Tiếp tục tiến hành các xét nghiệm định tính và định lượng virus HCV để có thể khẳng định đây là trường hợp bỏ sót trong giai đoạn cửa sổ. Từ khoá: NAT, sàng lọc, HIV, HBV, HCV

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm chức năng gan của bệnh nhân viêm gan mạn và xơ gan mất bù sau viêm gan vi rút b

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Chính

Mục tiêu: đánh giá đặc điểm lâm sàng và xét nghiệm chức năng gan của bệnh nhân viêm gan mạn và xơ gan mất bù sau viêm gan vi rút B. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 245 bệnh nhân (164 bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn (VGVRBM) và 81 bệnh nhân xơ gan mất bù sau viêm gan B (XGMBSVGB) được thăm khám, làm đầy đủ các xét nghiệm Marker chẩn đoán và xét nghiệm hóa sinh chức năng gan. Kết quả: về đặc điểm lâm sàng, một số triệu chứng như mệt, chán ăn, tiểu vàng gặp ở cả 2 nhóm, nhưng các triệu chứng nặng cổ chướng, tuần hoàn bàng hệ, phù chi, xuất huyết tiêu hóa, hôn mê gan chủ yếu chỉ gặp ở nhóm bệnh nhân xơ gan mất bù sau viêm gan B . Về các chỉ số xét nghiệm: ở các bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn: men gan (ASL/ALT) cao hơn, tỉ lệ prothrombin cao hơn, bilirubin thấp hơn và số lượng hồng cầu, tiểu cầu cao hơn nhóm bệnh nhân xơ gan mất bù sau viêm gan B . Kết luận: xơ gan mất bù sau viêm gan B là tình trạng bệnh lý rất nặng, tiên lượng xấu. Vì vậy chẩn đoán sớm, điều trị kịp thời VGVRBM bằng các thuốc kháng vi rút là phương pháp tốt nhất làm giảm quá trình xơ hóa và giúp tiên lượng tốt hơn ở bệnh nhân viêm gan vi rút B mạn.

Xem chi tiết

Đánh giá về chẩn đoán và điều trị tắc ruột do b thức ăn tại khoa ngoại bệnh viện bạch mai

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Hiếu Học

Tắc ruột do bã thức ăn không phải hiếm gặp và chẩn đoán chính xác trước mổ thường không dễ dàng. Mục tiêu: Phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định các yếu tố nguy cơ của tắc ruột do bã thức ăn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả các bệnh nhân bị tắc ruột do bã thức ăn được điều trị phẫu thuật tại khoa ngoại bệnh viện Bạch Mai. Kết quả: 86 bệnh nhân (26 nam và 60 nữ), 62,7% trên 50 tuổi; diễn biến cấp hay bán cấp với thời gian đến viện kể từ khi có triệu chứng trung bình là 6,34 ngày. Đau bụng 100% các trường hợp nhưng bí trung tiện chỉ thấy ở 72,1%, quai ruột nổi 37,2% và dấu hiệu rắn bò 19,8%. Một số yếu tố nguy cơ như: cắt dạ dày 34,2%; phẫu thuật khác của ổ bụng 21,1%; ngoài ra có ăn nhiều chất xơ, dùng thuốc giảm tiết, giảm co hay răng miệng không toàn vẹn. Chẩn đoán trước mổ chính xác 36,1%; phần nhiều tắc ở hồi tràng (67,4%), đa số có 1 khối bã (69,8%). Xử trí chủ yếu là mở ruột lấy bã thức ăn (80,2%). Kết luận: để chẩn đoán tắc ruột do bã thức ăn cần chú ý tính chất diễn biến và các yếu tố nguy cơ và xử lý sớm mở ruột lấy bã thức ăn cho kết quả tốt

Xem chi tiết

Hội chứng down và hội chứng klinefelter trong cùng một cơ thể

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Nguyễn Minh Hương, Tạ Thị Tĩnh, Hiroyuki Matsuoka

Thiếu G6PD là một bất thường di truyền hay gặp nhất, ảnh hưởng đến hơn 400 triệu người trên thế giới. Hầu hết các trường hợp thiếu G6PD đều do đột biến trên gen G6PD. Mục tiêu: phát hiện các điểm đột biến trên gen G6PD của một số nhóm dân tộc Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tách chiết DNA từ 39 mẫu máu của ba nhóm dân tộc Mường, Tày và Thái. Sau khi dùng phản ứng PCR (Polymerase Chain Reaction) để nhân bản các đoạn exon của gen G6PD, sản phẩm PCR được nhuộm với fluorescent và sau đó là đọc trình tự DNA trên máy sequencing. Kết quả: có 6 sự thay đổi của nucleotide trên gen G6PD tại các vị trí 143 T > C, 487 G > A, 871 G > A, 1360 C > T, 1376 G > T và 1388 G > A. Đột biến tại các vị trí 87 G > A (G6PD Viangchan) và 1360 C > T (G6PD Union) hay gặp nhất, tỷ lệ tương ứng là 25,7% và 53,8%. Kết luận: G6PD Viangchan và G6PD Union là hai biến thể chủ yếu trong nghiên cứu về G6PD tại Việt Nam.

Xem chi tiết

Tai biến xảy ra trong thực hành truyền máu và các chế phẩm của máu tại khoa nhi b, bệnh viện trẻ em Hải Phòng

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Nguyễn Ngọc Sáng, Trần Thị Ngọc Hòa

Nghiên cứu này được tiến hành tại khoa Nhi B bệnh viện Trẻ em Hải Phòng từ 1/1/04 đến 30/6/06 với mục tiêu: Mô tả các tai biến tức thì th¬ường xảy ra trong thực hành truyền máu và các chế phẩm của máu . Đối tượng nghiên cứu: Gồm134 bệnh nhi, qua 175 lượt truyền máu và các chế phẩm máu . Phương pháp nghiên cứu: Lâm sàng có định hướng. Kết quả và kết luận: Ba loại tai biến do truyền máu và chế phẩm của máu thường gặp là: Sốt rét run (6,9%), mẩn ngứa (4%), sốc (0,5%). Không có tử vong do tai biến truyền máu. Tai biến xảy ra chủ yếu ở bệnh nhân truyền máu nhiều lần. Từ khóa: Tai biến truyền máu

Xem chi tiết

Từ Điển Triệu Chứng và Chẩn Đoán

Chủ biên: BS. Lương Phán

Nhà xuất bản: NXB Tổng Hợp TPHCM

Lời nói đầu

Cuốn Từ điển Triệu chứng và Chẩn đoán dùng cho người khám đa khoa trong khám bệnh hằng ngày, với thời gian ngắn nhất có thể duyệt lại trong trí nhớ của mình từ triệu chứng đến chẩn đoán nhằm tránh bỏ sót, nhầm lẫn trong phân biệt. Thí dụ như: gan to, lách to, khái huyết v.v.. Do đó, không có phần sinh bệnh học hay hướng điều trị; thỉnh thoảng có ghi vài xét nghiệm cần thiết cho chẩn đoán.

Xem chi tiết

Hội chứng hellp trong bệnh lý nhiễm độc thai nghén

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 5

Tác giả: Ngô Văn Tài

Nghiên cứu 320 thai phụ bị nhiễm độc thai nghén (NĐTN) tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Trẻ sơ sinh trong năm 2002, cho thấy: tỷ lệ bệnh nhân bị hội chứng HELLP (H: Hemolysis; EL: Elevated liver enzymes; LP: Low platelets) là 31/320 (9,7%). Đây là một biến chứng nặng của hội chứng NĐTN do Weinstein mô tả lần đầu tiên tại Hoa Kỳ từ năm 1982. Cho đến nay, nguyên nhân của hội chứng này vẫn chưa được sáng tỏ. Bệnh được đặc trưng bởi sự tan máu vi thể; tăng các enzym của gan và số lượng tiểu cầu giảm. Về mặt lâm sàng, bệnh nhân có đau vùng thượng vị; buồn nôn hoặc nôn; có thể có tụ máu dưới bao gan và thường có suy thận cấp tính tạo nên nhiều biến chứng của hội chứng này. Theo nhiều tác giả thì đây là một cấp cứu sản khoa, cần đỉnh chỉ thai nghén; tỷ lệ tử vong mẹ và tử vong chu sinh tương đối cao. Theo nghiên cứu này thì biến chứng chảy máu do đông máu rải rác trong lòng mạch (CIVD) là 9/31 (29%); suy thận cấp là 100%; sản giật là 6/31 (19,4%); suy gan là 100%, suy tim là 4/31 (13%); không có phù phổi cấp và không có tử vong mẹ. Đối với sơ sinh: thai chết lưu trong tử cung là 9/31 (29%); thai chết chu sinh là 5/31 (14%); số thai nhi sống đều có cân nặng dưới 2500g (17/31 - 54,8%). Kết luận: Hội chứng HELLP là một biến chứng nặng của hội chứng NĐTN, là tiền sản giật nặng, cần đình chỉ thai nghén.

Xem chi tiết