Thực trạng quản lý chất thải y tế tại sáu bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Đinh Hữu Dung, Nguyễn Thị Thu, Vũ Thị Vựng, Phạm Thanh Tân

Điều tra cắt ngang thực trạng quản lý chất thải tại 6 bệnh viện (BV) đa khoa tuyến tỉnh, gồm: Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Nam, (QN, QNg, ĐT) Quảng Ngãi, Cần Thơ, Đồng Tháp chúng tôi thu được kết quả sau: - Tổng lượng rác thải trung bình/giường bệnh/ngày đêm: 0,6 - 1,27 kg. Trong đó, rác thải sinh hoạt chiếm 80,8% - 81,3%, rác thải lâm sàng chiếm tỷ lệ 18,2% - 18,9%, rác thải hoá học chiếm tỷ lệ từ 0,3% - 0,5% - Thực trạng quản lý chất thải: + Chất thải rắn: Việc phân loại, thu gom chất thải rắn theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế có khả năng thực hiện được tại các BVĐK tỉnh nhưng chưa có BV nào thực hiện đúng quy định của Bộ Y tế về phân loại chất thải rắn, bao bì đựng rác, phương tiện vận chuyển. Có 3 BV có lò đốt đảm bảo công suất và tiêu chuẩn kỹ thuật, nhưng chỉ 2 BV (QNg, ĐT) xử lý chất thải lâm sàng tại BV bằng lò đốt + Chất thải lỏng và khí: Cả 6 BV đều chưa hiểu biết đầy đủ về các biện pháp xử lý chất thải lỏng, khí và các tiêu chuẩn đánh giá. Nước thải sau xử lý chưa được kiểm tra đầy đủ và thường xuyên. - Khó khăn trong quản lý chất thải: Thiếu cán bộ có đủ trình độ chuyên môn để đảm nhận nhiệm vụ quản lý chất thải của bệnh viện. Không có đủ các phương tiện, vật tư để thực hiện phân loại đúng theo quy định của Bộ Y tế. Không có kinh phí riêng cho quản lý chất thải.

Xem chi tiết

Phẫu Thuật Gan Mật – ĐH Y Hà Nội

Chủ biên: Cố PGS. VS. Tôn Thất Bách

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Lời giới thiệu

Phẫu thuật Gan mật là một lĩnh vực của Ngoại khoa mà các nhà khoa học Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng.

Ngay từ năm 1939, Giáo sư Tôn Thất Tùng đã trình bày trường hợp cắt gan có kế hoạch đầu tiên theo phương pháp của ông mà sau này trở thành một trường phái cắt gan nổi tiếng trên thế giới được gọi là cắt gan theo phương pháp Tôn Thất Tùng. Tiếp sau đó ông cùng các cộng sự tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức đã công bố các công trình về bệnh lý sỏi mật và chảy máu đường mật nhiệt đới vào những năm 50 của thế kỷ 20. Trong khoảng vài thập niên gần đây, những hiểu biết mới về sinh lý bệnh học cũng như các tiến bộ vượt bậc của nghành Gây mê hồi sức và các trang thiết bị phẫu thuật đã đem lại một bước tiến nhảy vọt cho nghành Ngoại khoa nói chung và Phẫu thuật Gan mật cần được nhìn nhận dưới ánh sáng của những hiểu biết này.

Xem chi tiết

Nghiên cứu dị ứng thuốc điều trị bệnh Gút đặc hiệu tại Khoa Dị ứng - MDLS Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 3

Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn

Những năm gần đây bệnh Gút ngày càng tăng và dị ứng thuốc chữa Gút xảy ra thường xuyên hơn. Nghiên cứu dị ứng thuốc chữa Gút đặc hiệu(DƯTCGĐH) trên 21 bệnh nhân (BN) điều trị nội trú tại Khoa Dị ứng-MDLS BV Bạch mai (1995-2001) v?i phuong phỏp mụ t? c?t ngang. Kết quả cho thấy: Thuốc chữa Gút đặc hiệu gây dị ứng là allopurinol, colchicin và khi dùng phối hợp cả 2; Do ảnh hưởng đặc điểm của bệnh Gút nên DƯTCGĐH xẩy ra ở nam giới trên 40 nhiều hơn , biểu hiện lâm sàng đa dạng, 3 loại triệu chứng lâm sàng hay gặp là: ban đỏ, sẩn ngứa và sốt; Loại hình dị ứng muộn có tổn thương gan, thận là chủ yếu mà tiêu biểu là thể lâm sàng đỏ da toàn thân, vì vậy thời gian điều trị loại bệnh này kéo dài với 2 loại thuốc chủ yếu: methyl- prednisolon và dimedrol. Tuy nhiên không có trường hợp(TH) nào tử vong tại Khoa Dị ứng trong thời gian nghiên cứu.

Xem chi tiết

Kết quả các hoạt động hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo và dân tộc thiểu số của dự án y tế Tây Nguyên

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Lê thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Hương Giang, Lê Thị Hương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại 5 tỉnh Tây Nguyên nhằm mục tiêu: Nhận xét tác động của các hoạt động hỗ trợ khám chữa bệnh (KCB) cho người nghèo và dân tộc thiểu số của Dự án Y tế Tây Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phỏng vấn 1240 hộ gia đình (HGĐ) tại 5 tỉnh Tây Nguyên bằng bộ câu hỏi cấu trúc có sẵn. Kết quả: Đối với dịch vụ y tế (DVYT) nội trú: Trong số các trường hợp phải nằm viện, 69,4% trường hợp nằm viện ở bệnh viện (BV) huyện, 18,3% ở BV tỉnh, 6,9% nằm ở Trạm Y tế (TYT) xã. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nơi điều trị nội trú giữa nhóm đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế người nghèo (BHYTNN), bảo hiểm y tế (BHYT) khác và người không có thẻ BHYT về nơi điều trị nội trú. Đối với DVYT ngoại trú: Đa số người bị ốm có đi KCB (79,2%); không có sự khác biệt giữa nhóm nghèo và không nghèo. Gần 90% HGĐ có thẻ BHYTNN biết về quyền lợi của thẻ BHYT, kể cả những HGĐ không có thẻ BHYT cũng biết về quyền lợi khi có thẻ BHYT (69%). Kết luận: Thẻ BHYTNN và những hỗ trợ của dự án đã làm tăng khả năng tiếp cận DVYT của người nghèo và người dân tộc thiểu số đối với cả điều trị nội trú và ngoại trú. Bên cạnh đó, dự án đã có kết quả tốt đến sự hiểu biết của người dân về các chính sách hỗ trợ của nhà nước.

Xem chi tiết

Kết quả áp dụng phương pháp WISE trong quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện tuyến huyện

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, Lê Thị Tài, Lê Trần Ngoan

Hiện nay, chất thải đang là mối quan tâm lớn của mỗi bệnh viện và dân cư vùng tiếp giáp. đây là nghiên cứu thử nghiệm nhằm cải thiện công tác quản lý chất thải tại các bệnh viện tuyến huyện. mục tiêu: áp dụng phương pháp wise để cải thiện công tác quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện của 2 tỉnh yên bái và phú thọ. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế can thiệp áp dụng đối với cán bộ lãnh đạo và cán bộ trực tiếp tham gia quản lý chất thải của các bệnh viện. kết quả và kết luận: phương pháp wise đã mang lại kết quả tốt trong công tác quản lý chất thải tại các bv huyện của tỉnh yên bái và phú thọ: tất cả các khâu trong quy trình quản lý chất thải y tế từ phân loại, thu gom vận chuyển và xử lý chất thải đều được cải thiện nhờ chính khả năng của các bệnh viện

Xem chi tiết

Thực trạng sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người dân tại 4 phường, xã của thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Tạ Văn Đạt, Phạm Văn Trọng

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và bước đầu xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ BHYT của người dân ở 4 phường/xã tại thành phố Phủ Lý năm 2010. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Là những người tham gia các loại hình BHYT. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi và tiến hành phỏng vấn từ 5/2010 đến 8/2010 sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 15.0. Kết quả: số thẻ BHYT học sinh và cán bộ hưu trí chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm khác (31,6% và 33,3%). Có 16,4% luôn luôn sử dụng thẻ, 79% lúc dùng lúc không, 4,6% không sử dụng thẻ khi đi khám chữa bệnh (KCB) với lý do hay gặp nhất là sợ thủ tục phiền hà (25,1%). 77,0% chọn BV đa khoa TP là nơi đến khám đầu tiên khi bị ốm. Nhóm tuổi > 55 thường xuyên sử dụng thẻ để KCB khi ốm cao hơn nhóm tuổi ≤ 55 (38,7% so với 2,2%). Người có học vấn cao thường xuyên sử dụng thẻ gấp 3,2 so với nhóm người có trình độ học vấn thấp. Tỷ lệ thường xuyên sử dụng thẻ của nhóm có thu nhập > 2triệu/tháng (32%) cao hơn so với nhóm thu nhập ≤ 2triệu/tháng (15%). Người có tình trạng sức khỏe yếu hoặc bình thường có tỷ lệ thường xuyên sử dụng thẻ BHYT cao hơn và gấp 6,2 lần so với người có sức khỏe tốt (p < 0,05) (29% so với 6%). Nhóm ở xa nơi KCB (> 4 km) có tỷ lệ thường xuyên sử dụng thẻ là 45,2%; cao hơn so với nhóm ở không xa (13,8%). Kết luận: BHYT đã được triển khai rộng rãi, đa dạng tuy nhiên còn nhiều người dân chưa hiểu biết đầy đủ về thủ tục, quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia BHYT.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tỷ lệ hạ Natri máu ở bệnh nhân xơ gan

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Nguyễn Thái Bình, Phạm Thu Hằng, Đào Văn Long, Nguyễn Thi Vân Hồng

Nghiên cứu 175 bệnh nhân (BN) xơ gan nằm điều trị tại khoa Tiêu Hóa Bv Bạch Mai năm 2010. Mục đích: tìm hiểu tỷ lệ hạ Natri máu và một số yếu tố ảnh hưởng đến hạ Natri máu ở BN xơ gan. Kết quả: Tỷ lệ hạ Natri máu chiếm 63%, trong đó có 34,3% BN có Natri máu < 130mmol/l. Nồng độ Natri máu < 130 mmol/l gặp chủ yếu nhóm BN xơ gan nặng (Child-Pugh C) chiếm 51/60 (85%) (p <0,05). Xơ gan có biến chứng (BC) làm tăng tỷ lệ hạ Natri máu. Kết luận: Tỷ lệ BN có hạ Natri máu khá phổ biến đặc biệt xơ gan có biến chứng. Hạ Natri máu là một yếu tố tiên lượng nặng cho BN xơ gan.

Xem chi tiết

Bước đầu nghiên cứu hội chứng đỏ da toàn thân do thuốc

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Văn Đoàn

Nghiên cứu 169 bệnh nhân có hội chứng ĐDTT điều trị nội trú tại Khoa Dị ứng –MDLS BV Bạch Mai từ năm 1991-2001 cho thấy: Kháng sinh là nguyên nhân chủ yếu (62,3%) trong số 12 nhóm thuốc gây đỏ da toàn thân, "họ" kháng sinh hay gặp là Beta-lactam (77,5%). ĐDTT thường xuất hiện muộn (53,3%). Có 16 triệu chứng của đỏ da toàn thân là: đỏ da toàn thân, ngứa, sốt, phù Quincke, bong vẩy… Máu lắng tăng, bạch cầu tăng và có tổn thương tế bào gan là những thay đổi đáng kể. Thời gian điều trị trung bình bệnh nhân ĐDTT nội trú là: 9,1± 5,2 ngày. Có 4 loại thuốc và dịch truyền thường được dùng trong điều trị là: Solu-medrol, Dimedrol, Vitamin C và dung dịch glucose 5%. Không có bệnh nhân ĐDTT nào tử vong trong thời gian điều trị nội trú

Xem chi tiết