Siêu âm Sản khoa Thực hành – BV Hùng Vương

Chủ biên: BS. Đỗ Danh Toàn

Nhà xuất bản: BV Hùng Vương, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2008

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Nhằm nâng cao kiến thức và kỹ năng thực hành siêu âm Sản Phụ khoa cho các Bác sĩ của Bệnh viện Hùng Vương và của tuyến cơ sở, Bệnh viện Hùng Vương tiến hành đã xuất bản cuốn sách Siêu Âm Sản Khoa Thực Hành. Đây là cuốn sách rất hay và bổ ích không chỉ đối với các Bác sĩ và nhân viên y tế đã và đang công tác tại các bệnh viện mà còn là nguồn cung cấp tài liệu tham khảo một phần cho các sinh viên trường Y Dược đang theo học chuyên ngành Sản Khoa hoặc Chẩn Đoán Hình Ảnh phần Siêu Âm.

Xem chi tiết

Siêu âm Phụ khoa Thực hành – BV Hùng Vương (2014)

Chủ biên: BS. Đỗ Danh Toàn

Nhà xuất bản: BV Hùng Vương, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2014

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Cuốn sách Siêu âm Phụ khoa Thực hành (tái bản lần 4 năm 2014) của BV Hùng Vương là sách chuyên khảo có giá trị dành cho các bác sĩ siêu âm cũng như các bác sĩ sản phụ khoa.

Sách gồm các nội dung sau:
Chương 1 : Siêu âm thai ở tam cá nguyệt I
Chương 2 : Cơ thể học thai nhi bình thường
Chương 3 : Siêu âm nhau – ối – dây rốn
Chương 4 : Siêu âm xác định tuổi thai
Chương 5 : Siêu âm đánh giá sự rối loạn tăng trưởng của thai nhi
Chương 6 : Hệ thần kinh
Chương 7 : Hệ hô hấp
Chương 8 : Hệ tuần hoàn
Chương 9 : Hệ tiêu hóa
Chương 10 : Khuyết tật thành bụng
Chương 11 : Hệ tiết niệu – sinh dục
Chương 12 : Hệ xương – cơ
Chương 13 : Đa thai
Chương 14 : Phù thai không do miễn dịch
Chương 15 : Các hội chứng mất cân bằng số lượng nhiễm sắc thể
Chương 16 : Siêu âm Doppler trong sản phụ khoa
Chương 17 : Siêu âm 3 chiều trong khảo sát thai
Chương 18 : Ảnh giả và cạm bẫy trong siêu aamchaanr đoán sản khoa

Xem chi tiết

Thần Kinh Học Trẻ Em

Chủ biên: PGS. TS. Lê Đức Hinh

Nhà xuất bản: BV Bạch Mai, NXB Y Học

Lời nói đầu

Chuyên khoa “THẦN KINH HỌC TRẺ EM” ở Việt Nam đã có mầm mống từ khi Khoa Thần kinh và Tinh thần Bệnh viện Bạch Mai cùng với Bộ môn Thần kinh và Tinh thần Trường Đại học Y Dược Khoa Hà Nội được thành lập ngày 2 tháng 12 năm 1956. Từ đầu năm 1967 những khoá giảng vể thăm khám thần kinh trẻ em đã được tiến hành cho một số cán bộ chuyên khoa thần kinh và tinh thần. Năm 1968 được Bộ Y tế giao cho nhiệm vụ nghiên cứu về “hội chứng não cấp” ở trẻ em, một Đơn vị Nghiên cứu Viêm não được hình thành và trên cơ sở đó, một Phòng Thần Kinh Trẻ Em lần đầu tiên ra đời tại Bệnh viện Bạch Mai vào năm 1970.

Xem chi tiết

Phẫu Thuật Gan Mật – ĐH Y Hà Nội

Chủ biên: Cố PGS. VS. Tôn Thất Bách

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Lời giới thiệu

Phẫu thuật Gan mật là một lĩnh vực của Ngoại khoa mà các nhà khoa học Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng.

Ngay từ năm 1939, Giáo sư Tôn Thất Tùng đã trình bày trường hợp cắt gan có kế hoạch đầu tiên theo phương pháp của ông mà sau này trở thành một trường phái cắt gan nổi tiếng trên thế giới được gọi là cắt gan theo phương pháp Tôn Thất Tùng. Tiếp sau đó ông cùng các cộng sự tại bệnh viện hữu nghị Việt Đức đã công bố các công trình về bệnh lý sỏi mật và chảy máu đường mật nhiệt đới vào những năm 50 của thế kỷ 20. Trong khoảng vài thập niên gần đây, những hiểu biết mới về sinh lý bệnh học cũng như các tiến bộ vượt bậc của nghành Gây mê hồi sức và các trang thiết bị phẫu thuật đã đem lại một bước tiến nhảy vọt cho nghành Ngoại khoa nói chung và Phẫu thuật Gan mật cần được nhìn nhận dưới ánh sáng của những hiểu biết này.

Xem chi tiết

Thực trạng quản lý chất thải y tế tại sáu bệnh viện đa khoa tuyến tỉnh

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Thị Tài, Đào Ngọc Phong, Đinh Hữu Dung, Nguyễn Thị Thu, Vũ Thị Vựng, Phạm Thanh Tân

Điều tra cắt ngang thực trạng quản lý chất thải tại 6 bệnh viện (BV) đa khoa tuyến tỉnh, gồm: Yên Bái, Phú Thọ, Quảng Nam, (QN, QNg, ĐT) Quảng Ngãi, Cần Thơ, Đồng Tháp chúng tôi thu được kết quả sau: - Tổng lượng rác thải trung bình/giường bệnh/ngày đêm: 0,6 - 1,27 kg. Trong đó, rác thải sinh hoạt chiếm 80,8% - 81,3%, rác thải lâm sàng chiếm tỷ lệ 18,2% - 18,9%, rác thải hoá học chiếm tỷ lệ từ 0,3% - 0,5% - Thực trạng quản lý chất thải: + Chất thải rắn: Việc phân loại, thu gom chất thải rắn theo Quy chế quản lý chất thải y tế của Bộ Y tế có khả năng thực hiện được tại các BVĐK tỉnh nhưng chưa có BV nào thực hiện đúng quy định của Bộ Y tế về phân loại chất thải rắn, bao bì đựng rác, phương tiện vận chuyển. Có 3 BV có lò đốt đảm bảo công suất và tiêu chuẩn kỹ thuật, nhưng chỉ 2 BV (QNg, ĐT) xử lý chất thải lâm sàng tại BV bằng lò đốt + Chất thải lỏng và khí: Cả 6 BV đều chưa hiểu biết đầy đủ về các biện pháp xử lý chất thải lỏng, khí và các tiêu chuẩn đánh giá. Nước thải sau xử lý chưa được kiểm tra đầy đủ và thường xuyên. - Khó khăn trong quản lý chất thải: Thiếu cán bộ có đủ trình độ chuyên môn để đảm nhận nhiệm vụ quản lý chất thải của bệnh viện. Không có đủ các phương tiện, vật tư để thực hiện phân loại đúng theo quy định của Bộ Y tế. Không có kinh phí riêng cho quản lý chất thải.

Xem chi tiết

Thực trạng sử dụng thẻ bảo hiểm y tế của người dân tại 4 phường, xã của thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Tạ Văn Đạt, Phạm Văn Trọng

Mục tiêu: Mô tả thực trạng và bước đầu xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng thẻ BHYT của người dân ở 4 phường/xã tại thành phố Phủ Lý năm 2010. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Là những người tham gia các loại hình BHYT. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi và tiến hành phỏng vấn từ 5/2010 đến 8/2010 sau đó được phân tích bằng phần mềm SPSS 15.0. Kết quả: số thẻ BHYT học sinh và cán bộ hưu trí chiếm tỷ lệ cao hơn nhóm khác (31,6% và 33,3%). Có 16,4% luôn luôn sử dụng thẻ, 79% lúc dùng lúc không, 4,6% không sử dụng thẻ khi đi khám chữa bệnh (KCB) với lý do hay gặp nhất là sợ thủ tục phiền hà (25,1%). 77,0% chọn BV đa khoa TP là nơi đến khám đầu tiên khi bị ốm. Nhóm tuổi > 55 thường xuyên sử dụng thẻ để KCB khi ốm cao hơn nhóm tuổi ≤ 55 (38,7% so với 2,2%). Người có học vấn cao thường xuyên sử dụng thẻ gấp 3,2 so với nhóm người có trình độ học vấn thấp. Tỷ lệ thường xuyên sử dụng thẻ của nhóm có thu nhập > 2triệu/tháng (32%) cao hơn so với nhóm thu nhập ≤ 2triệu/tháng (15%). Người có tình trạng sức khỏe yếu hoặc bình thường có tỷ lệ thường xuyên sử dụng thẻ BHYT cao hơn và gấp 6,2 lần so với người có sức khỏe tốt (p < 0,05) (29% so với 6%). Nhóm ở xa nơi KCB (> 4 km) có tỷ lệ thường xuyên sử dụng thẻ là 45,2%; cao hơn so với nhóm ở không xa (13,8%). Kết luận: BHYT đã được triển khai rộng rãi, đa dạng tuy nhiên còn nhiều người dân chưa hiểu biết đầy đủ về thủ tục, quyền lợi, nghĩa vụ khi tham gia BHYT.

Xem chi tiết

Suy thận cấp và mô bệnh học ở bệnh nhân ong đốt

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 4

Tác giả: Bế Hồng Thu

Đặt vấn đề: ong dốt có thể gây ra biến chứng nặng như sốc phản vệ, suy thận cấp và rối loạn đông máu dẫn đến tử vong. Tuy vậy suy thận cấp do ong đốt còn ít được chú ý. Mục tiêu nghiên cứu: mô tả đặc điểm của suy thận cấp và hình ảnh mô bệnh học của tổn thương thận ở bệnh nhân suy thận cấp do ong đốt. Phương pháp nghiên cứu: tiến cứu mô tả, theo dõi dọc, đánh giá kết quả trước và sau điều trị. Kết quả: 70 bệnh nhân bị từ 1 đến 270 nốt do ong vò vẽ, ong bắp cày, ong vàng và ong mật đốt điều trị tại Trung tâm Chống Độc BV Bạch Mai từ 2002-2003. Số nốt đốt gây suy thận cấp ít nhất là 15 nốt, nhiều nhất là 105 nốt (TB 50,5 nốt). Thời gian vô niệu từ 4 đến 45 ngày (TB 14,7 ngày). Kết luận: suy thận cấp chiếm 21,4% (15/70 BN), do ong vò vẽ và bắp cày đốt.Bài niệu cư¬ỡng bức sớm làm giảm tỉ lệ bệnh nhân phải chạy thận nhân tạo.Mô bệnh học của tổn thương thận trong suy thận cấp do ong đốt là hoại tử ống thận cấp.

Xem chi tiết

Kết quả các hoạt động hỗ trợ khám chữa bệnh cho người nghèo và dân tộc thiểu số của dự án y tế Tây Nguyên

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Lê thị Thanh Xuân, Nguyễn Thị Hương Giang, Lê Thị Hương

Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại 5 tỉnh Tây Nguyên nhằm mục tiêu: Nhận xét tác động của các hoạt động hỗ trợ khám chữa bệnh (KCB) cho người nghèo và dân tộc thiểu số của Dự án Y tế Tây Nguyên. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phỏng vấn 1240 hộ gia đình (HGĐ) tại 5 tỉnh Tây Nguyên bằng bộ câu hỏi cấu trúc có sẵn. Kết quả: Đối với dịch vụ y tế (DVYT) nội trú: Trong số các trường hợp phải nằm viện, 69,4% trường hợp nằm viện ở bệnh viện (BV) huyện, 18,3% ở BV tỉnh, 6,9% nằm ở Trạm Y tế (TYT) xã. Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về nơi điều trị nội trú giữa nhóm đối tượng có thẻ bảo hiểm y tế người nghèo (BHYTNN), bảo hiểm y tế (BHYT) khác và người không có thẻ BHYT về nơi điều trị nội trú. Đối với DVYT ngoại trú: Đa số người bị ốm có đi KCB (79,2%); không có sự khác biệt giữa nhóm nghèo và không nghèo. Gần 90% HGĐ có thẻ BHYTNN biết về quyền lợi của thẻ BHYT, kể cả những HGĐ không có thẻ BHYT cũng biết về quyền lợi khi có thẻ BHYT (69%). Kết luận: Thẻ BHYTNN và những hỗ trợ của dự án đã làm tăng khả năng tiếp cận DVYT của người nghèo và người dân tộc thiểu số đối với cả điều trị nội trú và ngoại trú. Bên cạnh đó, dự án đã có kết quả tốt đến sự hiểu biết của người dân về các chính sách hỗ trợ của nhà nước.

Xem chi tiết

Kết quả áp dụng phương pháp WISE trong quản lý chất thải y tế tại một số bệnh viện tuyến huyện

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Thu, Đào Ngọc Phong, Lê Thị Tài, Lê Trần Ngoan

Hiện nay, chất thải đang là mối quan tâm lớn của mỗi bệnh viện và dân cư vùng tiếp giáp. đây là nghiên cứu thử nghiệm nhằm cải thiện công tác quản lý chất thải tại các bệnh viện tuyến huyện. mục tiêu: áp dụng phương pháp wise để cải thiện công tác quản lý chất thải tại các bệnh viện huyện của 2 tỉnh yên bái và phú thọ. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế can thiệp áp dụng đối với cán bộ lãnh đạo và cán bộ trực tiếp tham gia quản lý chất thải của các bệnh viện. kết quả và kết luận: phương pháp wise đã mang lại kết quả tốt trong công tác quản lý chất thải tại các bv huyện của tỉnh yên bái và phú thọ: tất cả các khâu trong quy trình quản lý chất thải y tế từ phân loại, thu gom vận chuyển và xử lý chất thải đều được cải thiện nhờ chính khả năng của các bệnh viện

Xem chi tiết