Đánh giá nồng độ amylase huyết thanh trong chấn đoán chấn thương tá tụy

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trịnh Văn Tuấn

Nghiên cứu sự thay đổi nồng độ amylase trong máu trước mổ trên bệnh nhân chấn thương tá tụy để ứng dụng trong chẩn đoán. Đối tượng nghiên cứu: 156 trường hợp chấn thương tá tụy được phân độ thương tổn giải phẫu bệnh lý trong mổ. Phương pháp nghiên cứu: Mô tả tiến cứu. Kết quả: Amylase máu tăng nhẹ trong 3 giờ đầu sau tai nạn (26,3%), tăng mạnh trong nhửng giờ sau (78,2%). 87% tăng trong chấn thương tá tụy phối hợp ở tất cả các độ thương tổn; 78,2 % tăng trong chấn thương tá tràng từ độ II trở lên; 73,36% tăng trong các thương tổn nhẹ độ I, II ở tụy. Kết luận: Định lượng amylase máu khoảng 3 giờ sau chấn thương có giá trị trong chẩn đoán chấn thương tá tụy; amylase máu tăng gặp nhiều trong các thương tổn nặng ở tá tràng và thương tổn nhẹ ở tụy.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Sự phát triển âm đầu của âm tiết ở trẻ em bình thường tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Vũ Thị Bích Hạnh và cộng sự

Khi đánh giá phát âm và ngôn ngữ của trẻ em nói tiếng Việt, chúng ta không có cơ sở bình thường nào để so sánh. Mục tiêu: (1) Nghiên cứu độ dài trung bình của phát ngôn ở mỗi độ tuổi. (2) Nghiên cứu quá trình hoàn thiện của các phụ âm đầu âm tiết của trẻ em tuổi tiền học đường, địa bàn nội thành Hà Nội. Phương pháp: Mô tả cắt ngang: Ghi âm hội thoại tự do của trẻ với người thân và dùng bảng từ thử để kiểm tra. Tính độ dài trung bình của phát ngôn; âm được coi là hoàn chỉnh nếu tần suất tạo âm đúng đạt trên 85%. Kết quả: Độ dài phát ngôn tăng từ 1,36 (12 - 18th) lên 6,6 âm tiết (độ tuổi 60 - 72th). Thứ tự hoàn thiện là các âm “m, b, p, k, h... ” rồi tới các âm “ x, n, th, kh... “. Kết luận: Độ dài phát ngôn tỷ lệ thuận với độ tuổi. Các âm đầu có bộ vị phía trước, là âm tắc, âm hữu thanh được hoàn chỉnh sớm hơn so với âm phía sau, âm xát và âm vô thanh.

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng ống soi mềm trong vi phẫu thuật nang dây thanh

Chuyên ngành: TAI MŨI HỌNG

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Lương Thị Minh Hương

Tên tác giả: LÊ PHƯƠNG TÌNH

Nang dây thanh là một loại tổn thương lành tính ở lớp mô đệm, dưới niêm mạc dây thanh. Đây là bệnh hay gặp, chiếm tỷ lệ tương đối cao trong các tổn thương lành tính dây thanh. Theo một số nghiên cứu thì chiếm khoảng 14 - 16% các khối tổn thương lành tính dây thanh [1], [2].
Nang dây thanh gây ra khàn tiếng, biến đổi âm sắc, nói chóng mệt, gây khó khăn trong giao tiếp hoặc hoạt động nghề nghiệp. Nang dây thanh có thể gặp cả hai giới, nguyên nhân chính là do hoạt động của dây thanh một cách quá mức, do viêm nhiễm vùng mũi họng hay do trào ngược họng thanh quản [3], [4], [5]…
Ngày nay việc chẩn đoán nang dây thanh không khó nhờ có nhiều thiết bị được ứng d ng trong thăm khám và chẩn đoán bệnh lý nang dây thanh như nội soi ống cứng, nội soi ống mềm….
Soi hoạt nghiệm thanh quản đã được ứng d ng ở bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương để chẩn đoán bệnh lý dây thanh. Đây là phương pháp đánh giá sự rung động của dây thanh b ng nội soi dưới ánh sáng nhấp nháy strobe . Soi hoạt nghiệm cho thấy hình ảnh một cách r nét hơn về sóng niêm mạc, tính đối xứng và sự khép thanh môn mà dưới nội soi ánh sáng thường không quan sát được.
Việc điều trị nang dây thanh bao gồm điều trị các ổ viêm nhiễm kế cận, điều trị chống trào ngược họng- thanh quản và luyện giọng.
Phẫu thuật cắt bỏ nang là phương pháp điều trị thường được áp d ng đối với nang dây thanh, có nhiều phương pháp để phẫu thuật trong đó có thể phẫu thuật qua ống soi mềm. Ống soi mềm có kích thước nhỏ, mềm nên có thể đưa qua đường mũi, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, dễ sử d ng do có thể uốn cong để đi vào các vùng mà ống soi cứng khó có thể soi được.

Để đánh giá hiệu quả của ống nội soi mềm trong phẫu thuật nang dây thanh chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên ng dụng ống soi mềm trong vi phẫ th ật nang dây thanh”.
Mục iêu:
1. Đối hiế một số i m âm s ng, nội soi v nội soi ho t nghi m trong nang dây thanh.
2. Đ nh gi ết sử dụng ống mềm vi phẫ th ật nang dây thanh q a nội soi v nội soi ho t nghi m.

Xem chi tiết

Điều trị chấn thương tụy tại bệnh viện Việt Đức

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 3

Tác giả: Trịnh Văn Tuấn, Trần Bình Giang

Nghiên cứu chẩn đoán, điều trị chấn thuơng tụy. Kết quả: 52 bệnh nhân bao gồm nam: 46 (88,5%), nữ: 6 (12%); tuổi trung bình 27,1 ± 9,5 (cao nhất 52, thấp nhất 8); nguyên nhân chấn thương do tai nạn giao thông: 44 (84,6%); tai nạn sinh hoạt: 1 (1,9%); tai nạn lao động: 7 (13%). Chụp cắt lớp ổ bụng lúc nhập viện cho thấy: thương tổn tụy độ I: 14 (26.9%); độ II: 12 (23,1%); độ III: 17 (32,7%); độ IV: 6 (11,5%); độ V: 3 (5,8%). Chỉ định điều trị bảo tồn 24 (46,2%), trong đó độ I: 13/24 (54,1%); độ II: 5/24 (20,8%); độ III: 4/24 (16,7%); độ IV: 2/24 (8,3%). Mổ cấp cứu 28/52 (53,9%) trong đó: độ I: 1/28 (3,6%); độ II: 7/28 (25%); độ III: 13/28 (46,4%); độ IV: 4/28 (14,3%); độ V: 3/28 (10,7%). Kết quả điều trị với nhóm bảo tồn: tốt 20/24 (83,3%), chỉ định mổ 4/24 (16,7%); với nhóm phẫu thuật: tốt 26/28 (92,9%), biến chứng 2/28 (7,1%). Không có tử vong cho cả hai nhóm. Số ngày điều trị trung bình: 5,6 ± 3,1 với nhóm bảo tồn, 11,7 ± 7,8 với nhóm điều trị phẫu thuật. Kết luận: điều trị chấn thương tụy đa số là bằng phẫu thuật nhưng cũng có thể điều trị được bằng bảo tồn không mổ. Điều trị bảo tồn trong một số loại thương tổn tụy đưa lại những kết quả khả quan, tránh những can thiệp ngoại khoa không cần thiết.

Xem chi tiết