Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan b, virus viêm gan c, đồng nhiễm virus viêm gan b/c và kiểu gen của virus viêm gan b thuộc khu vực biên giới việt - trung huyện bát xát tỉnh lao cai

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Nguyễn Văn Bàng

Mục tiêu: nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HBV, HCV và đồng nhiễm HBV/HCV tại huyện Bát Xát, Lào Cai. Phân loại kiểu gen của HBV trên mẫu nghiên cứu nhằm góp phần xây dựng bản đồ kiểu gen của HBV tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 683 đối tượng từ năm dân tộc khác nhau. Xác định nhiễm HCV bằng ELISA, HBV bằng ELISA và Lumipulse - fort. Định lượng nồng độ HBV - DNA bằng real - time PCR, phân loại kiểu gen của HBV bằng cây phân loại sinh học ở 26 đối tượng. Kết quả: tỷ lệ HBsAg dương tính trong quần thể nghiên cứu 15,7%, cao nhất ở dân tộc Kinh 22,8%, thấp nhất ở dân tộc Giáy 13,5% và Tày 10,2%. Tỷ lệ nhiễm HCV 6,6%, thấp nhất ở dân tộc Kinh 0%, cao nhất ở dân tộc Mông 9,7%. Tỷ lệ đồng nhiễm HBV/HCV 1,3% và tỷ lệ IgG anti - HBc dương tính 82,1%. Tỷ lệ kiểu gen B 54% và kiểu gen C 46%. Kết luận: tỷ lệ HBsAg dương tính ở huyện Bát Xát, Lào Cai cao ở tất cả các dân tộc. Phần lớn dân cư huyện Bát Xát đều có tiền sử nhiễm HBV, hai kiểu gen cơ bản của HBV là kiểu gen B và kiểu gen C. Tỷ lệ nhiễm HCV ở mức độ trung bình và không đồng đều giữa các dân tộc.

Xem chi tiết

Bước đầu đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp Virus viêm gan B và virus viêm gan C trên bệnh nhân HIV (+) tại bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Tường Vân, Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Xuân Quang, Nguyễn Ngọc Điệp và Lê Khánh Trâm

Để đánh giá tình hình nhiễm trùng phối hợp giữa vius viêm gan B, vius viêm gan C và HIV cũng như ảnh hưởng của đường lây truyền đối với những nhiễm trùng phối hợp này chúng tôi đã tiến hành kiểm tra HBsAg và antiHCV trên 427 trường hợp HIV (+) được phát hiện tại Khoa Vi sinh Bệnh viện Bạch Mai từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2002 kết quả cho thấy: 1. Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm HIV trong nhóm nghiên cứu có anti HCV (+) là 81,03%.Tỷ lệ HBsAg (%) ở bệnh nhân HIV (+) là 18,26%. Sự khác biệt về tỷ lệ nhiễm 2 loại virus viêm gan B & C ở nhóm đối tượng này là rất lớn (p < 0.0001). 2. Tỷ lệ đồng nhiễm cả virus viêm gan B, C ở bệnh nhân HIV (+) là 14,9%. 3. Tiêm chích ma túy là nguy cơ hàng đầu của đồng nhiễm HIV và HCV. Tỷ lệ nhiễm HCV ở bệnh nhân HIV do tiêm chích chiếm 88,5%; ở bệnh nhân vừa tiêm chích vừa quan hệ tình dục là 83,67% và ở nhóm nhiễm HIV do quan hệ tình dục tỷ lệ nhiễm HCV là 47,44%.

Xem chi tiết

Xác định tỷ lệ nhiễm hp và vi rut viêm gan b,c,a, của người dân một số khu vực hải phòng

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3

Tác giả: Vũ Thị Vựng, Trần Hồng Vân, Nguyễn Ngọc Hùng, Đỗ Doãn Lợi và cộng sự

Mở đầu: Xét nghiệm tình trạng nhiễm HP và vi rút viêm gan B, A, C có ý nghĩa quan trọng trong phòng ngừa các bệnh mạn tính và ung thư. Mục tiêu: xác định tỷ lệ nhiễm HP, vi rut viêm gan A,B,C và mô tả một số yếu tố lây truyền vi rut viêm gan B của người dân khu vực Hải Phòng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: áp dụng phương pháp mô tả cắt ngang nghiên cứu trên 541 người tuổi từ 18 – 60 tuổi thuộc khu vực Hải phòng. Kết quả: tỷ lệ nhiễm HBV cấp có khả năng lây nhiễm là 7,9%. Tỷ lệ nhiễm HBV tự nhiên đã qua giai đoạn viêm cấp: 24,8%. Tỷ lệ người đã được bảo vệ với vi rút HBV do tiêm phòng vác xin hoặc do nhiễm HBV tự nhiên 30%. Tỷ lệ người thâm nhiễm với viêm gan C là 0,92%. Tỷ lệ người thâm nhiễm vi rút viêm gan A là 92,2%. Tỷ lệ người thâm nhiễm với vi khuẩn HP chiếm 69,9%. Tỷ lệ lây truyền HBV ở các đối tượng đang bị viêm gan cấp chiếm 72%, nguồn lây nhiễm từ vợ chồng với nhau và lây nhiễm từ bố mẹ sang con. Kết luận: tỷ lệ có HBsAg (+): 8,1%, tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan C: 0,92%; tỷ lệ nhiễm vi rút viêm gan A: 92,2%. Tỷ lệ nhiễm vi khuẩn HP: 69,9%. Lây truyền vi rút viêm gan B qua đường tình dục hoặc từ mẹ sang con chiếm 72%.

Xem chi tiết

Đồng nhiễm HIV và viêm gan B, C tại phòng khám ngoại trú HIV - bệnh viện bệnh Nhiệt đới Trung ương

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Bùi Vũ Huy, Kanxay Vernavong

Nghiên cứu nhằm đánh giá tỷ lệ đồng nhiễm HBV, HCV- HIV và tìm hiểu một số yếu tố nhân khẩu học có liên quan với tình trạng đồng nhiễm HBV, HCV và HIV. Kết quả cho thấy tỷ lệ đồng nhiễm viêm gan virut là 50,26 %, trong đó 35,35% có anti-HCV; 8,42% có kháng nguyên HbsAg; 6,49 % có HbsAg và anti-HCV. Đồng nhiễm HCV/HIV và HBV/HIV hay gặp ở nhóm tuổi 30 - 39 hơn các nhóm tuổi khác (p <0,005). Đồng nhiễm HCV/HIV gặp ở nam nhiều hơn nữ (p < 0,001) và có liên quan với hành vi tiêm chích ma túy (p < 0,001), trong khi đó đồng nhiễm HBV/HIVgặp ở cả hai giới (p > 0,05) và có liên quan với hành vi tình dục (p < 0,001).

Xem chi tiết

Liên Quan giữa đột biến T1653 (C to 1653) thuộc Box-Alpha trên gen X với kiểu gen, HBV-DNA và HbeAg trên bệnh nhân Việt Nam nhiễm virus viêm gan B

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 5

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Yoshihiko Yano, Yasushi Seo, Nguyen Truong Son, Trần Minh Phương, Nguyễn Công Long, Yoshitake Hayash, Nguyễn Khánh Trạch

Nghiên cứu tỷ lệ và vai trò gây bệnh có đột biến trên gen X của virus viêm gan B (HBV), ở bệnh nhân Việt Nam còn rất hạn chế. Mục tiêu: Xác định tỷ lệ đột biến T1653, liên quan giữa T1653 với kiểu gen, HBeAg và HBV-DNA. Đối tượng và phương pháp: Kiểu gen, nồng độ HBV-DNA, HBeAg và Anti-HBe trên 172 bệnh nhân nhiễm HBV xác định bằng phương pháp: PCR-RFLP, Real-time PCR và ELISA. Đột biến T1653 được phân tích bằng giải trình tự gen. Kết quả: Tỷ lệ kiểu gen B: 70,3% và C: 29,7%. Tỷ lệ T1653 trên kiểu gen C cao hơn kiểu gen B (17,6% vs. 4,9%., P = 0,007). T1653 liên quan nhiều hơn với tỷ lệ HBeAg dương tính cao, nồng độ HBV-DNA cao so với không có đột biến (Wild-type). So với T1653 trên kiểu gen B, T1653 trên kiểu gen C có nồng độ HBV-DNA cao và tỷ lệ HBeAg âm tính thấp (7,66 vs. 4,65 logcopies/ml., P = 0,0015) (11,1% vs. 100%., P = 0,001). Kết luận: Tỷ lệ T1653 ở kiểu gen C cao hơn kiểu gen B, T1653 trên kiểu gen C là yếu tố gây bệnh nặng trên bệnh nhân nhiễm HBV.

Xem chi tiết

Nhận xét dưới kiểu gen (Sub-Genotype) kiểu gen C (Genotype) của virut viêm gan B bằng phương pháp cây phân loại sinh học (Phylogenetic Analysis) trên bệnh nhân ở Việt Nam

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 3

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Yasushi Seo, Yoshihiko Yano, Nguyễn Trường Sơn, Trần Minh Phương, Nguyễn Công Long, Nguyễn Văn Nam, Yoshitake Hayashi, Nguyễn Khánh Trạch

Tại Đông Á, hai dưới kiểu gen chủ yếu thường gặp của kiểu gen C virút viêm gan B là Cs (C1) và Ce (C2), cho đến nay phân loại dưới kiểu gen trên bệnh nhân Việt Nam còn rất hạn chế. Mục tiêu: Xác định dưới kiểu gen C của virút viêm gan B trên bệnh nhân Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Phân loại dưới kiểu gen C trên 5 bệnh nhân Việt Nam bằng phương pháp cây phân loại sinh học, dựa trên bản giải trình gen toàn bộ phân tử DNA. Kết quả: Dưới kiểu gen trên cả 5 bệnh nhân nghiên cứu là Cs, tỷ lệ đồng dạng DNA (homology) trung bình 98,07%, tỷ lệ khác biệt (divergene) trung bình 1,93% và chiều dài xấp xỉ 3,2 kilobase. Bàn luận: Kết quả nghiên cứu hoàn toàn phù hợp với nhận định, tại Đông Nam Châu Á dưới kiểu gen C chủ yếu thường gặp là cộng sự (C1). Kết luận: Nghiên cứu góp phần xác định dưới kiểu gen C của virút viêm gan B trên bệnh nhân Việt Nam là Cs.

Xem chi tiết