Rối loạn hành vi ăn uống ở trẻ tự kỷ

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thị Thanh Mai, Vũ Thương Huyền

Nghiên cứu nhằm mô tả những biểu hiện rối loạn hành vi ăn uống ở trẻ tự kỷ. Phương pháp nghiên cứu được thiết kế theo nghiên cứu bệnh - chứng. 130 trẻ được chẩn đoán rối loạn tự kỷ, tuổi trung bình 43,95 ± 19,24 tháng, được so sánh với 130 trẻ không bị tự kỷ, tương xứng với nhau về tuổi, giới, nơi sống. Người chăm sóc trẻ bị tự kỷ và không bị tự kỷ được phỏng vấn bằng bệnh án nghiên cứu và thang điểm đánh giá hành vi ăn uống ở trẻ em (CEBI). Kết quả cho thấy tỷ lệ có bất thường về hành vi ăn uống ở nhóm trẻ tự kỷ (53,1%) cao hơn so với nhóm chứng (10%). Trẻ tự kỷ ăn uống kén chọn: loại thức ăn (58,8%), những thức ăn cấu trúc thấp (72,3%), mùi vị thức ăn (11,5%), ăn hạn chế món (22,3%). Rối loạn hành vi trong bữa ăn ở trẻ tự kỷ là ăn quá chậm (20,8%), ăn miếng thức ăn kích thước lớn (20,8%), nuốt chửng hầu như không nhai (20,8%). Các biểu hiện trên ở nhóm trẻ tự kỷ đều cao hơn nhóm chứng, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p < 0,05). Rối loạn hành vi ăn uống là rối loạn đi kèm thường gặp ở trẻ tự kỷ. Sự quan tâm và hỗ trợ những rối loạn hành vi ăn uống ở trẻ tự kỷ là cần thiết để nâng cao chất lượng cuộc sống của trẻ.

Xem chi tiết

Tình trạng biếng ăn, đặc điểm nhân trắc và thực hành nuôi dưỡng trẻ dưới 15 tuổi đến khám tại trung tâm dinh dưỡng thành phố hồ chí minh tháng 8 năm 2005

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3

Tác giả: Đào Thị Yến Phi

Mục tiêu: xác định tỷ lệ biếng ăn, đánh giá đặc điểm nhân trắc và thực hành nuôi dưỡng trẻ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang trên 602 trẻ dưới 15 tuổi đến khám tại phòng khám Trung Tâm Dinh Dưỡng Thành phố Hồ Chí Minh tháng 8/2005. Kết quả và kết luận: trẻ được gia đình nhận định là biếng ăn chiếm tỷ lệ 65% trẻ khám tại Trung tâm Dinh Dưỡng, trong số đó gần 93% có cân nặng theo tuổi giảm trên 15% so với tiêu chuẩn cân nặng theo tuổi trung bình của quần thể tham khảo NCHS. Trẻ được gia đình nhận định là biếng ăn có cân nặng trung bình thấp hơn những trẻ không bị xem là có biếng ăn 1,8 kg. Thời điểm bắt đầu xuất hiện biểu hiện biếng ăn thường gặp nhất là khi tập ăn dặm (32,49%) và sau một đợt bệnh (23,86%). Biểu hiện biếng ăn thường gặp nhất là không ăn hết thức ăn theo nhu cầu (88,32%) và ngậm thức ăn, không nhai nuốt (77,16%). Các hành vi dinh dưỡng có thể liên quan đến tình trạng biếng ăn bao gồm: số bữa ăn trong ngày, dạng thức ăn được dùng, số lượng thức ăn, lượng thực phẩm giàu đạm, và mức độ hoạt động thể chất quá năng động của trẻ.

Xem chi tiết

Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử (polymerase chain reaction) trong phԟn loại nhóm myzomyia series ở khu vực miền Trung- Tây Nguyên

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Trương Văn Có

Qua thu thập các loài trong nhóm loài Myzomyia series tại một số tỉnh Quảng Bình, Quảng Nam, Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Đak Nông và Gia Lai từ 2005-2006, kết quả cho thấy: Các loài muỗi trong nhóm Myzomyia series phân bố từ các sinh cảnh rừng cao su đến rừng thưa và cả rừng rậm. Sinh cảnh phù hợp và có số lượng loài cao như An. aconitus, An. jeyporiensis và An. minimus là rừng thứ sinh, rừng thưa và có suối nước nhỏ chảy quanh năm.Ở sinh cảnh rừng rậm, trong nhà rẫy mật độ các loài này thấp.Ứng dụng kỹ thuật PCR xác định phần lớn có sự tương quan giữa hình thái ngoài và kiểu di truyền của An. minimus A và C. So với hình thái ngoài của An. minimus sp. có tỷ lệ đúng so với đặc điểm di truyền là 88,23%, có sự nhầm lẫn hình thái ngoài là An. minimus nhưng có đặc điểm di truyền là An. aconitus (0,09%), An. pampanai (0,49%) và An. varuna (0,58%). Bằng kỹ thuật PCR đã xác định ở Quảng Bình và Phú Yên có mặt An. varuna, ĐakLak và Đak Nông có An. pampanai, và tại Ninh Thuận có mặt cả 2 loài An. pampanai và An. varuna.

Xem chi tiết

Mối liên hệ giữa nồng độ các thành phần lipid máu với thói quen ăn uống và hoạt động thể lực

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Tiến, Đoàn Phước Thuộc

Mục tiêu: xác định sự liên hệ giữa nồng độ của mỗi thành phần lipid máu với thói quen ăn uống và hoạt động thể lực. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả cắt ngang với đối tượng là người trưởng thành từ 20 tuổi trở lên tại 8 phường thuộc thành phố Huế, so với đối chứng. Kết quả: người ăn nhiều thịt, mỡ, thức ăn động vật tỷ lệ có mức TC cao là 39,5%; mức LDL-C huyết thanh cao là 26,8%,mức TG cao 22,5%, và mức HDL-C máu 21% cao hơn người ăn nhiều rau quả, cá. Ăn nhiều đồ ngọt,tinh bột mức TG là 30,3%, và HDL-C máu là 30,3% cao hơn ăn nhiều rau, cá. Người hoạt động thể lực < 30'/ ngày tỷ lệ có mức HDL-C là 36,5%, LDL-C máu cao là 33,7%, TC máu là 42,3%, cao hơn người hoạt động thể lực ≥ 30 phút/ ngày. Kết luận: có mối liên hệ giữa nồng độ các thành phần lipid máu với thói quen sử dụng thức ăn và mức độ hoạt động thể lực trung bình/ngày. Chế độ ăn nhiều thịt mỡ, chất béo làm tăng mức LDL-C, TC, TG máu và giảm mức HDL-C máu; với chế độ ăn nhiều rau quả thì ngược lại; ăn nhiều tinh bột, đồ ngọt làm tăng TG và giảm HDL-C máu; Hoạt động thể lực càng nhiều thì mức TC, LDL-C, TG càng giảm và mức HDL-C càng cao.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân dị ứng thức ăn ở trẻ em tại viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi - Hô hấp

Tên hướng dẫn: PGS.TS. LÊ THỊ MINH HƯƠNG

Tên tác giả: NGŨ THỊ LÊ VINH

Thức ăn rất cần thiết cho cuộc sống và vô cùng quan trọng cho hoạt động của xã hội loài người. Nguồn thức ăn rất đa dạng và phong phú, khác nhau giữa các vùng miền trong một quốc gia và khác nhau giữa các quốc gia trên thế giới. Hiện nay có tới hơn 170 loại thức ăn bản chất là các protein được coi là dị nguyên gây ra các phản ứng dị ứng thức ăn, và có ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống cũng như tính mạng của con người [1], [2], [3].
Trong vài thập kỷ trở lại đây tình trạng dị ứng thức ăn nói chung và dị ứng thức ăn ở trẻ em ngày càng tăng. Hàng năm, trên thế giới ước tính có 6% trẻ em và 3,7% người lớn dị ứng thức ăn. Tại Anh, tỉ lệ các phản ứng dị ứng nghiêm trọng như sốc phản vệ tăng gấp hai lần từ 5,6 lên 10,2 trường hợp/ 100.000 bệnh nhân ra viện trong 4 năm từ 1991 đến 1995. Sự đa dạng về nguồn thực phẩm và sự giao thoa văn hóa ẩm thực giữa các vùng miền quốc gia trên thế giới càng làm cho dị ứng thức ăn, đặc biệt là ở trẻ em đang trở thành một vấn đề thời sự [4], [5], [6], [7], [8].
Có thể hiểu dị ứng thức ăn là kết quả của một chuỗi các phản ứng bất thường của hệ thống miễn dịch, trong đó có sự kết hợp dị nguyên và kháng thể theo cơ chế phức tạp, đan xen giữa cơ chế qua trung gian IgE, qua trung gian tế bào hay phối hợp cả hai cơ chế [1], [7], [8], [9], [10]. Dị ứng thức ăn có thể xảy ra với một hoặc nhiều loại thức ăn. Các loại thức ăn bản chất là các protein được coi là dị nguyên gây ra các phản ứng dị ứng thức ăn. Trong các loại thức ăn gây dị ứng thường gặp một trong 4 loại thực phẩm sau: sữa, lạc, hải sản, trứng; đây cũng là thức ăn thường gặp trong công thức dinh dưỡng hàng ngày của trẻ em ở các lứa tuổi [11], [12], [13], [14], [15], [16], [17].
Các triệu chứng lâm sàng của bệnh xuất hiện sau khi ăn rất đa dạng từ nhẹ đến nặng, bao gồm tổn thương nhiều cơ quan, tổn thương ở da, đường
2
tiêu hoá, đường hô hấp và toàn thân nặng như sốc phản vệ… gây ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng cuộc sống cũng như tính mạng của người bị dị ứng thức ăn [1], [7], [8], [9], [10].
Biểu hiện lâm sàng của dị ứng thức ăn rất phong phú, diễn biến thay đổi theo thời gian, do đó vấn đề chẩn đoán dị ứng thức ăn ở trẻ em thực sự là một thách thức lớn đối với các bác sỹ nhi khoa. Mặc dù trên thế giới và khu vực đã có một số hướng dẫn chẩn đoán và điều trị dị ứng thức ăn [1], [6], [9] nhưng trong thực tế việc chẩn đoán xác định nguyên nhân và điều trị đặc hiệu dị ứng thức ăn vẫn hạn chế tại Việt Nam. Nhiều trường hợp dị ứng thức ăn ở trẻ em chưa được quan tâm, chẩn đoán kịp thời và điều trị thỏa đáng. “Một trẻ có tiền sử khoẻ mạnh, đột ngột xuất hiện ban đỏ toàn thân kèm theo khó thở và chân tay lạnh và trụy mạch sau bữa ăn”, đây là thực trạng chúng ta đã và sẽ còn gặp trong thực tế, vậy nguyên nhân trẻ trong tình trạng nặng như vậy ở đây là gì? Chúng ta có thể làm gì để dự phòng điều này không xảy ra? Rất khó để trả lời các câu hỏi trên nếu chúng ta không chẩn đoán xác định được dị ứng thức ăn và nguyên nhân gây ra các phản ứng dị ứng đó là gì? Để từ đó cung cấp cho người bị dị ứng thông tin chính xác về nguyên nhân gây ra các phản ứng dị ứng cũng đồng thời đưa ra phương pháp điều trị phù hợp, tránh các phản ứng dị ứng nặng như sốc phản vệ, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, giảm thiểu chi phí tài chính cho gia đình và xã hội [3].
Tại Việt Nam, các nghiên cứu về dị ứng thức ăn ở trẻ em còn hạn chế, do đó chúng tôi tiến hành: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và nguyên nhân dị ứng thức ăn ở trẻ em tại viện nhi Trung ương” với 2 mục tiêu sau:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng dị ứng thức ăn ở trẻ em.
2. Nghiên cứu một số thức ăn gây dị ứng ở trẻ em.

Xem chi tiết

Thực trạng kiến thức các chủ cửa hàng ăn về vệ sinh an toàn thực phẩm thức ăn đường phố tại thị trấn Xuân Mai - năm 2008

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Trần Thị Hương Giang, Đỗ Thị Hòa

Mục tiêu: mô tả thực trạng kiến thức vệ sinh an toàn TAĐP của chủ các cửa hàng ăn tại thị trấn Xuân Mai Hà Nội, năm 2008. Đối tượng nghiên cứu: là toàn bộ các chủ cửa hàng kinh doanh ăn uống tại thị xã Xuân Mai Chương Mỹ Hà Nội với mô hình nghiên cứu cắt ngang trong thời gian từ tháng 4 đến 10/2008. Kết quả và Kết luận: kiến thức về sự tồn tại của vi khuẩn; sử dụng phụ gia thực phẩm, dùng dụng cụ riêng biệt cho thực phẩm sống và chín, và tác dụng của bày bán thực phẩm trong tủ kính của các chủ cơ sở là tương đối tốt, đạt trên 80%. Kiến thức về nơi chế biến thực phẩm, tác dụng của bảo hộ lao động và nguyên nhân gây ô nhiễm thực phẩm chưa đầy đủ. Tỷ lệ chủ các cơ sở có kiến thức chung về đảm bảo VSATTP đạt 59,2%.

Xem chi tiết

Thực trạng thừa cân - béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh trung học cơ sở thành phố Bắc Giang năm 2011

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Văn Toán, Đoàn Thị Thu Huyền, Lê Thị Hương

Tại Bắc Giang trong những năm gần đây, thừa cân - béo phì cũng đã xuất hiện và có xu hướng gia tăng, đặc biệt là lứa tuổi học đường. Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ thừa cân béo phì của học sinh trung học cơ sở và các yếu tố liên quan tại thành phố Bắc Giang. Kết quả cho thấy: tỷ lệ thừa cân - béo phì ở học sinh trung học cơ sở tại địa bàn nghiên cứu là 6,7%, trong đó béo phì chiếm 2%. Tỷ lệ thừa cân - béo phì ở trẻ nam cao hơn ở trẻ nữ, tỷ lệ này của nhóm học sinh 11 - 12 tuổi cao hơn nhóm 13 - 14 tuổi và thường gặp ở các phường hơn so với các xã. Năng lượng, chất béo trong khẩu phần, thói quen ăn thức ăn chứa nhiều lipid (thịt mỡ, thức ăn xào rán), ăn nhiều bữa (trên 4 bữa/ngày), hay ăn vặt, ăn trước khi đi ngủ tối, điều kiện kinh tế có liên quan tới tình trạng béo phì của học sinh. Tỷ lệ thừa cân, béo phì của học sinh tại tại Bắc Giang có xu hướng tăng lên, đặc biệt là nhóm học sinh nam. Thói quen ăn nhiều bữa, ăn bữa phụ, ăn trước khi đi ngủ cùng với chế độ ăn giàu năng lượng đặc biệt là lipid (đồ rán, thịt mỡ) có liên quan tới tình trạng thừa cân béo phì ở lứa tuổi này.

Xem chi tiết

Đái tháo đường Tuýp II ở nhóm 30-69 tuổi tại tỉnh Nghệ An năm 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Đào Thị Minh An. Trần Minh Long. Trần Thị Phúc Nguyệt

Nghiên cứu này nhằm mô tả một số đặc điểm dịch tễ học đái tháo đường (ĐTĐ) tỷp 2 phát hiện ở nhóm tuổi 30 - 69 sinh sống tại tỉnh Nghệ An năm 2010. Kết quả cho thấy ĐTĐ týp 2 ở nhóm tuổi từ 30 - 69 trong cộng đồng dân cư tỉnh Nghệ An là 9,39%. Nam cao hơn nữ (11,0% và 8,26%), thành thị cao hơn nông thôn (9,94% và 8,88%); ĐTĐ týp 2 có xu hướng tăng theo tuổi và tập trung chính ở nhóm tuổi > 45; nhóm có tiền sử bệnh lý tim mạch, rối loạn lipid máu, bệnh tăng huyết áp; thường xuyên ăn chất béo, ăn uống chất ngọt, uống rượu bia, ít ăn rau xanh, ít hoạt động thể lực, thừa cân/béo phì, tiền sử sinh con có cân nặng > 4000 gram có tỉ lệ mắc ĐTĐ týp 2 cao hơn nhóm không có các yếu tố này. cần mở rộng chương trình sàng lọc phát hiện sớm ĐTĐ týp 2 trong cộng đồng định kỳ hàng năm ở nhóm đối tượng từ30 trở lên; phát triển các chương trình truyền thông rộng rãi, phổ cập trong cộng đồng về các yếu tố liên quan, nguy cơ của ĐTĐ; xây dựng các phòng tư vấn về ĐTĐ tại tuyến y tế cở sở trên địa bản tỉnh Nghệ An.

Xem chi tiết

Đánh giá về chẩn đoán và điều trị tắc ruột do b thức ăn tại khoa ngoại bệnh viện bạch mai

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Hiếu Học

Tắc ruột do bã thức ăn không phải hiếm gặp và chẩn đoán chính xác trước mổ thường không dễ dàng. Mục tiêu: Phân tích đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và xác định các yếu tố nguy cơ của tắc ruột do bã thức ăn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: hồi cứu mô tả các bệnh nhân bị tắc ruột do bã thức ăn được điều trị phẫu thuật tại khoa ngoại bệnh viện Bạch Mai. Kết quả: 86 bệnh nhân (26 nam và 60 nữ), 62,7% trên 50 tuổi; diễn biến cấp hay bán cấp với thời gian đến viện kể từ khi có triệu chứng trung bình là 6,34 ngày. Đau bụng 100% các trường hợp nhưng bí trung tiện chỉ thấy ở 72,1%, quai ruột nổi 37,2% và dấu hiệu rắn bò 19,8%. Một số yếu tố nguy cơ như: cắt dạ dày 34,2%; phẫu thuật khác của ổ bụng 21,1%; ngoài ra có ăn nhiều chất xơ, dùng thuốc giảm tiết, giảm co hay răng miệng không toàn vẹn. Chẩn đoán trước mổ chính xác 36,1%; phần nhiều tắc ở hồi tràng (67,4%), đa số có 1 khối bã (69,8%). Xử trí chủ yếu là mở ruột lấy bã thức ăn (80,2%). Kết luận: để chẩn đoán tắc ruột do bã thức ăn cần chú ý tính chất diễn biến và các yếu tố nguy cơ và xử lý sớm mở ruột lấy bã thức ăn cho kết quả tốt

Xem chi tiết