Giáo Trình Hóa Dược – Dược Lý (Phần I)

Chủ biên: DS. Nguyễn Thúy Dần

Nhà xuất bản: NXB Hà Nội, Sở GD&ĐT Hà Nội

Năm xuất bản: 2007

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Hóa dược – Dược lý là môn học tổng hợp các vấn đề liên quan đến thuốc. Môn học được chia thành 2 phẩn chính:
– Phần Hóa dược: Nghiên cứu về cấu trúc, tính chất hóa, lý của các thuốc
– Phần Dược lý: Nghiên cứu về tác dụng của thuốc trên cơ thể người

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Nồng độ hóc môn “Insulin-like Growth Factor-I /IGF-I” huyết thanh ở trẻ em Việt Nam - lứa tuổi tiền học đường

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Xuân Ninh

Nghiên cứu được tiến hành trên 642 trẻ em lứa tuổi tiền học đường, nhằm xác định trị số qui chiếu của IGF-I huyết thanh, một hóc môn tăng trưởng quan trọng của cơ thể, và một số yếu tố liên quan. Kết quả cho thấy rằng: 1)-Nồng độ IGF-I ở trẻ em (0-<60 tháng tuổi) tăng dần theo mỗi nhóm tuổi, IGF-I ở trẻ nữ cao hơn trẻ nam cùng lứa tuổi. 2)- Nồng độ IGF-I giảm thấp có ý nghĩa ở những trẻ bị suy dinh dưỡng (SDD) ở cả 3 thể: cân nặng/tuổi (40,7± 22,3ng/mL), chiều cao/tuổi (39,5 ± 21,3ng/mL) và cân nặng/chiều cao (35,7± 22,2ng/mL) so với 46-48ng/mL ở trẻ không SDD. 3)-Trị số IGF-I ở những trẻ khỏe mạnh (có cân nặng, chiều cao bình thường so với quần thể tham khảo NCHS), có thể sử dụng như trị số qui chiếu tham khảo cho chẩn đoán, theo dõi và điều trị một số vấn đề rối loạn tăng trưởng ở trẻ em. 4)- Cần có những đánh giá nồng độ IGF-I trên những bệnh nhân bị bệnh khổng lồ (acromegaly), với những dấu hiệu lâm sàng điển hình để có thể thiết lập giá trị ranh giới (cut-off) giữa bình thường và bệnh lý trong chuẩn đoán lâm sàng.

Xem chi tiết

Yamada’s Atlas of Gastroenterology 5th Edition

Chủ biên: Daniel K. Podolsky

Nhà xuất bản: Wiley Blackwell

Năm xuất bản: 2016

Ngôn ngữ: English

Access to accurate, high-quality images is vital for ensuring effective management of patients with GI complaints.

The fifth edition of Yamada’s Atlas of Gastroenterology sees the return of the gold-standard multi-media atlas that provides gastroenterologists with an outstanding visual tool covering all facets of the field.  Every GI disorder from liver abscesses, endocrine neoplasms of the pancreas, to motility disorders of the esophagus are fully illustrated through the use of endoscopic ultrasonographs, computed tomography scans, magnetic resonance images, radionuclide images, and angiograms.

Xem chi tiết

Nghiên cứu sản xuất Insulin tái tổ hợp giai đoạn I

Cấp đề tài: 01

Năm: 2010

Chủ nhiệm: PGS. TS. Lê Văn Phủng

Đồng tác giả: ThS. Nguyễn Trọng Tuệ; ThS. Trần Hồng Vân

Xếp loại: da

Quyết định số: 1550/QĐ-BYT 10/5/2010; nghiệm thu ngày 17/5/2010; Đào tạo 1 BSCKII, 1 CN

Xem chi tiết

Nhân một trường hợp mắc hội chứng klinefelter 47,xy,i(x)(q10)

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 5

Tác giả: Lương Thị Lan Anh, Phan Thị Hoan, Trần Đức Phấn, Nguyễn Ngân Hà, Hoàng Huyền Nga

Đột biến cấu trúc nhiễm sắc thể X kiểu X đều nhánh dài [i(X)(q10)] rất hiếm xảy ra ở các bệnh nhân mắc hội chứng Klinefelter. Chúng tôi báo cáo một trường hợp bệnh nhân nam 26 tuổi, vô sinh nguyên phát, mắc hội chứng Klinefelter có karyotyp đột biến cả về số lượng và cấu trúc nhiễm sắc thể giới tính, 47,XY,i(X)(q10), dạng thuần. Bệnh nhân có chiều cao trung bình (160 cm), kết quả xét nghiệm tinh dịch không có tinh trùng (azoospermia), bệnh nhân không bị chậm trí tuệ, nội tiết tố testosterol giảm, tinh hoàn teo nhỏ và hẹp bao quy đầu.

Xem chi tiết

Phẫu thuật điều trị tách ngón i bàn tay bẩm sinh ở trẻ em

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng

Tách ngón I bẩm sinh là một biến dạng thường gặp và dễ thấy. Mục tiêu: (1) Nhận xét dấu hiệu lâm sàng và X quang; (2) Đánh giá kết quả phẫu thuật. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: từ 1/2001 tới 12/ 2007), có 216 trẻ (148 trẻ gái và 68 trẻ trai); Tuổi từ 6 tháng tới 13 tuổi có tách ngón I bẩm sinh. Tác giả tiến hành đo góc giang và khép của ngón I. Tất cả trẻ được phẫu thuật theo kỹ thuật của Bilhaut - Cloquet và chuyển bám tận cơ giang ngắn ngón I mé quay tới nền đốt mé trụ. Kết quả: tuổi trung bình tại thời điểm phẫu thuật là 2,6 năm ( từ 6 tháng tuổi tới 13 tuổi). Phân loại theo Wassel, 77,1% ngón I tách đôi trong type IV, Type II: 15,6%; Type VII: 4,7%. Thời gian trung bình đánh giá kết quả sau phẫu thuật là 38 tháng (từ 6 tháng tới 60 tháng). Trên 91.7% bệnh nhân chấp nhận hoặc thoả mãn với kết quả chức năng ngón I và thẩm mỹ. Biến chứng sau phẫu thuật như nhiễm khuẩn vết mổ, sẹo lồi, teo nhỏ ngón I, biến dạng khớp, khớp không vững thường thấy nhưng ít gặp. Kết luận: Kỹ thuật chuyển cơ giang ngắn ngón I đạt kết quả lâu dài về chức năng và thẩm mỹ của ngón I và có thể là phương pháp tốt cho điều trị tách ngón I bẩm sinh trẻ em.

Xem chi tiết