So sánh đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh Kawasaki ở trẻ dưới và trên 6 tháng tuổi

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1.1

Tác giả: Đặng Thị Hải Vân, Hồ Sỹ Hà, Lê Nam Trà

Mục tiêu: Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng bệnh Kawasaki ở trẻ ≤ 6 tháng tuổi và > 6 tháng. Đối tượng: 201 bệnh nhân Kawasaki (có 57 trẻ ≤ 6 tháng tuổi và 144 trẻ > 6 tháng) được điều trị tại bệnh viện nhi Trung ương (TƯ) từ 1/2005 đến 12/2009. Phương pháp: nghiên cứu mô tả tiến cứu. Kết quả: tuổi trung bình là 14,9 tháng, trong đó tỷ lệ tre ≤ 6 tháng tuổi là 28,4%. Tỷ lệ nam: nữ là 1,64: 1. Tỷ lệ bệnh nhân có viêm da vùng sinh dục, có dấu hiệu Beaude -line gặp trong nhóm ≤ 6 tháng tuổi cao hơn nhóm > 6 tháng (35,1% và 36,8% so với 18,1% và 20,1%). Thời gian sốt của nhóm ≤ 6 tháng tuổi cũng dài hơn. Mức độ tăng tiểu cầu và số lượng bạch cầu của nhóm ≤ 6 tháng tuổi cao hơn nhóm > 6 tháng (749710 và 20 200/ mm3 so với 618680 và 17600/ mm3 ), nhưng ngược lại nhóm ≤ 6 tháng tuổi có mức độ thiếu máu nặng hơn. Tổn thương động mạch vành (ĐMV) trong giai đoạn cấp là 32,8%. Tỷ lệ tổn thương, mức độ nặng của tổn thương ĐMV ở nhóm ≤ 6 tháng tuổi (52,6%) cao hơn nhóm > 6 tháng (25%). Kết luận: Tỷ lệ tổn thương và mức độ tổn thương ĐMV ở nhóm dưới 6 tháng tuổi cao hơn nhóm trên 6 tháng

Xem chi tiết

Bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất cho trẻ 6 - 36 tháng tuổi bị thấp còi

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thanh Hà, Nguyễn Xuân Ninh, Phạm Văn Hoan

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất trong thời gian 6 tháng đến tình trạng thiếu máu, thiếu vitamin A và thiếu kẽm ở trẻ suy dinh dưỡng thấp còi, 6 - 36 tháng tuổi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu thử nghiệm can thiệp cộng đồng có đối chứng; 448 trẻ thấp còi (chiều cao/ tuổi < - 2SD) thuộc 6 xã, huyện Gia Bình tỉnh Bắc Ninh, được chia ngẫu nhiên ra 3 nhóm: Nhóm chứng (n = 146), không được can thiệp; nhóm kẽm (n = 141) được bổ sung 2 viên kẽm (Zn 10mg/viên) x 25 tuần và nhóm sprinkles (n = 161) được bổ sung 5 gói sprinkles/ tuần trong 25 tuần. Các chỉ số Hb, retinol và kẽm huyết thanh được đánh giá tại thời điểm ban đầu (T0), và sau 6 tháng can thiệp (T6). Riêng Hb được đánh giá thêm 1 lần sau 6 tháng ngừng can thiệp (T12). Kết quả: Sau 6 tháng can thiệp, nồng độ Hb và kẽm cải thiện rõ rệt ở 2 nhóm can thiệp, nhưng hiệu quả cải thiện nồng độ retinol chưa rõ ràng. Tỷ lệ thiếu kết hợp 2 vi chất trở lên cũng giảm có ý nghĩa thống kê ở 2 nhóm can thiệp. Kết luận, khuyến nghị: Bổ sung kẽm và sprinkles đa vi chất có hiệu quả cải thiện tình trạng thiếu máu và thiếu kẽm ở trẻ SDD thấp còi. Những nghiên cứu sâu hơn về liều lượng phù hợp cũng như thời gian can thiệp tối ưu cần được hoàn thiện nhằm đưa ra phác đồ bổ sung vi chất phù hợp cho trẻ em.

Xem chi tiết

Tỷ lệ sâu răng 6, 7 và một số yếu tố nguy cơ ở học sinh trường tiểu học Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội năm 2005

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Ngọc Thành, Ngô Văn Toàn

Bệnh sâu răng là một trong những bệnh răng miệng phổ biến nhất hiện nay và nhóm yếu tố nguy cơ ảnh hưởng là tập quán ăn uống và chăm sóc vệ sinh răng miệng. Mục tiêu: (1) Mô tả tỷ lệ sâu răng 6,7; (2) phân tích một số yếu tố nguy cơ của sâu răng số 6. Đối tượng và Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng thiết kế nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 377 học sinh tiểu học tại trường Tiểu học Khương Thượng, Đống Đa, Hà Nội năm 2005. Bộ câu hỏi được sử dụng để phỏng vấn học sinh về các đặc trưng cá nhân, chế độ ăn uống và vệ sinh răng miệng, khám lâm sàng để phát hiện sâu răng. Kết quả: Tỷ lệ sâu răng 6 hàm dưới là cao nhất, dao động từ 35,3 - 36,5% .Tỷ lệ sâu răng 6 hàm trên là 8,4%. Kết quả phân tích đa biến cho thấy những học sinh thực hành chải răng sai có nguy cơ mắc sâu răng 6 cao hơn một cách có ý nghĩa thống kê so với những học sinh chải răng đúng. Kết luận: Tỷ lệ sâu răng 6 ở học sinh tiểu học là cao trong khi tỷ lệ sâu răng 7 thấp. Tỷ lệ sâu răng 6 hàm dưới là cao hơn so với tỷ lệ sâu răng 6 hàm trên. Chải răng không đúng kỹ thuật là yếu tố nguy cơ quan trọng của sâu răng.

Xem chi tiết

Thay đổi cytokin trong máu ngoại vi ở trẻ viêm phổi thở máy

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Diệu Thúy, Nguyễn Thị Bình, Tạ Anh Tuấn

Viêm phổi là bệnh lý hô hấp thường gặp ở trẻ em. Đáp ứng viêm ở trẻ quyết định tiến triển của bệnh. Phản ứng quan trọng nhất của cơ thể là giải phóng ra các cytokin khác nhau bởi các tế bào viêm. Các cytokin được sản xuất ra có vai trò khuếch đại phản ứng viêm tại phổi. Đề tài được thực hiện nhằm đánh giá sự thay đổi một số cytokin trong máu ngoại biên ở bệnh nhân viêm phổi nặng phải thở máy. Đây là nghiên cứu mô tả tiến cứu trên trẻ viêm phổi nặng thở máy và trẻ khỏe mạnh. Các trẻ viêm phổi được lấy máu định lượng cytokin trong 24 giờ đầu sau đặt nội khí quản. Trong thời gian 6 tháng, chúng tôi có 45 trẻ viêm phổi nặng phải thở máy và 35 trẻ khỏe mạnh đủ tiêu chuẩn tham gia nghiên cứu. Nồng độ các cytokin tiền viêm như: IL - 6, IL - 8, GM - CSF tăng một cách có ý nghĩa so với nhóm chứng. Nồng độ IL - 6 tăng 3924% (80,84 pg/ml so với 2,06 pg/ml; p = 0,01), nồng độ IL - 8 tăng 1360% (90,03 pg/ml so với 6,62pg/ml, p < 0,001), nồng độ GM - CSF tăng1007% (115,58 pg/ml so với 11,47 pg/ml; p < 0,001). Nồng độ IL - 10 ở nhóm trẻ viêm phổi dưới 6 tháng cao hơn rõ rệt nhóm trẻ trên 6 tháng. Bệnh nhân có nồng độ IL - 6 cao ở ngày đầu thở máy có nguy cơ tử vong cao hơn so với bệnh nhân có nồng độ IL - 6 thấp ( 267, 12 pg/ml so với 20,75 pg/ml, p = 0,05). Các cytokin như IL - 6, IL - 8, IL - 10, GM - CSF có vai trò quan trọng trong phát động quá trình viêm ở bệnh nhân viêm phổi. Nồng độ IL - 6 cao tiên lượng bệnh nặng, nguy cơ tử vong.

Xem chi tiết

Nhân lực y tế của 6 bệnh viện huyện Hà Nội năm 2008-2010: Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Nguyễn Duy Luật, Nguyễn Thị Thúy

Nghiên cứu nhằm mô tả thực trạng nhân lực y tế của 6 bệnh viện huyện thuộc Thành phố Hà Nội năm 2008 - 2010 và Phân tích một số yếu tố liên quan đến thực trạng nhân lực y tế của 6 bệnh viện huyện nêu trên. Kết quả cho thấy nhân lực của 6 bệnh viện huyện gồm: Điều dưỡng - Nữ hộ sinh (ĐD - NHS) chiếm tỷ lệ cao nhất (44,32%), bác sĩ (BS) (18,43%), y sĩ đa khoa (YSĐK) (14,34%), dược sĩ (DS) trung học (5,51%), dược sĩ đại học (0,93%). số cán bộ y tế (CBYT)/ giường bệnh là 0,9; Tỷ số ĐD - NHS/ BS là 2,07. Trình độ sau đại học thấp (2,17% thạc sĩ, 30,12 % là bác sĩ chuyên khoa cấp 1 (BSCK1), không có bác sĩ chuyên khoa cấp 2 (BSCK2), tiến sĩ trở lên). Từ đó có thể kết luận, cả 6 BVH thiếu nhân lực y tế trầm trọng cả về số lượng (thiếu 35,8%) và trình độ chuyên môn còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu hiện tại.

Xem chi tiết

NGHIÊN CỨU TÌNH HÌNH CẤP PHÁT THẺ VÀ KHÁM CHỮA BỆNH MIỄN PHÍ CHO TRẺ DƯỚI 6 TUỔI TẠI TUYẾN XÃ Ở MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Vũ Khắc Lương

Cấp phát thẻ (CPT) và khám chữa bệnh (KCB) miễn phí cho trẻ dưới 6 tuổi (TE < 6) là chính sách lớn nhưng chưa có một nghiên cứu đánh giá nào nên cần một đánh giá khách quan, toàn diện để điều chỉnh và cải tiến. Mục tiêu: mô tả thực trạng việc CPT và KCB miễn phí cho TE < 6 tại tuyến xã ở ba tỉnh. Phân tích một số cơ hội/ thuận lợi/ ưu điểm và nhược điểm/ thách thức/ khó khăn và đề xuất giải pháp khắc phục. Kết quả: quy trình CPT và cung ứng thuốc KCB qua nhiều khâu phức tạp, số trẻ chưa được CPT: nhiều nhất tại Quảng Trị: 12,5% - 26,2%; ít nhất tại Hà Nội: 3,0% - 4,3%, khoảng 15% trẻ không tới KCB tại TYTX khi bị ốm/bệnh. Hà Nội chỉ sử dụng danh mục hạn hẹp 36 loại thuốc nên thiếu nhiều loại thuốc. Quảng Trị thiếu nhiều dụng cụ KCB và không có bác sĩ KCB tại TYTX. Trung bình có 44,7% số lần ốm/bệnh của TE < 6 không sử dụng thẻ hay giấy chúng nhận đi KCB. Cơ hội lớn nhất là chính phủ đã đồng ý chuyển KCB cho TE < 6 sang chế độ bảo hiểm y tế (BHYT). Kết luận và kiến nghị: chính sách KCB miễn phí cho TE < 6 tuổi có nhiều ưu điểm, cần cải tiến quy trình CPT, cung ứng thuốc, danh mục thuốc, đưa bác sĩ và tăng cường trang thiết bị cho TYTX. Cần thực hiện sớm KCB cho TE < 6 theo cơ chế BHYT.

Xem chi tiết

Biochemistry

Chủ biên: DONALD VOET & JUDITH G. VOET

Năm xuất bản: 2011

Ngôn ngữ: Tiếng Anh

Xem chi tiết