Áp dụng Meta Analysis phân tích tình hình điều trị di chứng tai biến mạch máu não

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Ngô Thị Hương, Lê Thành Xuân

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá giả thuyết “Y học cổ truyền (YHCT) có ưu thế hơn y học hiện đại (YHHĐ) trong điều trị di chứng tai biến mạch máu não (DCTBMMN)”. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Qua 6 mẫu nghiên cứu ngẫu nhiên có đối chứng, nhận thấy: các phương pháp điều trị của YHCT có phần ưu thế hơn YHHĐ trong điều trị DCTBMMN; Các công trình được đăng tải không mang tính thiên vị xuất bản. Nhìn chung, các phương pháp của YHCT có phần ưu thế hơn YHHĐ trong điều trị DCTBMMN.

Xem chi tiết

Ứng dụng kỹ thuật sinh học phân tử trong phát hiện đột biến gen α globin của bệnh α thalassemia

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 1

Tác giả: Ngô Diễm Ngọc, Lý Thị Thanh Hà, Dương Bá Trực, Bùi Văn Viên, Trần Thị Thanh Hương

Alpha (α) thalassemia là bệnh di truyền lặn trên nhiễm sắc thể thường, đặc trưng bởi sự suy giảm hoặc thiếu hụt tổng hợp chuỗi α globin trong phân tử hemoglobin. Nghiên cứu nhằm phát hiện đột biến gen α globin ở các bệnh nhân α thalassemia bằng kỹ thuật sinh học phân tử. Kết quả cho thấy người HbH mang kiểu gen (- - SEA/HbCs) : 9/15 người , (- - SEA/- α 3.7) : 5/15 người, (- - SEA/HbQs) :1/15 người. Người mang gen bệnh dị hợp tử (Het) đột biến (- - SEA): 64.1%, Het HbCs: 25.6%, Het α3.7: 5.1%. Áp dụng kỹ thuật multiplex-PCR, C-ARMS-PCR đã phát hiện các đột biến thường gặp trên gen α globin. Đây là cơ sở để chẩn đoán bệnh α thalassemia, đặc biệt trong chẩn đoán trước sinh.

Xem chi tiết

Tình trạng béo phì, các yếu tố liên quan và phân loại theo y học cổ truyển

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Phạm Văn Trịnh, Lại Thanh Hiền, Phạm Văn Hán, Nguyễn Thị Thu Hiền

Mục tiêu của nghiên cứu nhằm: điều tra tỷ lệ bệnh béo phì và một số yếu tố liên quan ở học sinh các trường tiểu học của một quận nội thành Hải Phòng, phân loại bệnh béo phì theo YHCT. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tỷ lệ béo phì ở lứa tuổi 6 - 11 của quận Hồng Bàng - Hải Phòng là 6,2%, trong đó béo phì nam là 7,2%; béo phì nữ là 5,1%. Nhóm trẻ béo phì hoạt động thể lực trung bình là 77 phút/ngày ít hơn nhóm trẻ bình thường là 110 phút/ngày. Thời gian ngủ trong đêm của nhóm béo phì là 7,9 giờ/ngày thấp hơn nhóm chứng là 8,3 giờ/ngày. Tỷ lệ béo phì ở lứa tuổi 6 - 11 của quận Hồng Bàng Hải Phòng là 6,2%. Các yếu tố ảnh hưởng đến béo phì là hoạt động thể lực và thời gian ngủ đêm của trẻ. Theo YHCT: trẻ béo phì chủ yếu gặp 2 thể: Đàm trọc (26,4%) và Vị nhiệt (12,8%). Có 38,4% trẻ béo phì không có biểu hiện gì theo YHCT.

Xem chi tiết

Tác dụng của phương pháp dưỡng sinh y học cổ truyền đối với phụ nữ

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hà, Lê Thị Hiền, Nguyễn Trường Sơn

Mãn kinh (Menopause) ở phụ nữ thường gây ra các triệu chứng bất thường làm ảnh hưởng lớn đến chất lượng cuộc sống. Nghiên cứu nhằm mục tiêu: đánh giá tác dụng của phương pháp luyện tập dưỡng sinh y học cổ truyền đối với phụ nữ thời kỳ mãn kinh. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Điểm số Blatt - Kupperman giảm sau 30 ngày tập từ 18,72 ± 5,78 điểm xuống 7,18 ± 3,33 điểm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Mức độ rối loạn theo thang điểm Blatt - Kupperman giảm sau 30 ngày tập có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Có tác dụng hạ huyết áp đối với những người có tăng huyết áp sau 30 ngày tập (p < 0,05). Lực bóp cơ tay tăng sau 30 ngày tập luyện (p < 0,05). Sau 30 ngày tập không thấy thay đổi về cận lâm sàng. Kết quả trên cho phép rút ra kết luận sau: Luyện tập dưỡng sinh y học cổ truyền có tác dụng tốt đối với phụ nữ thời kỳ mãn kinh.

Xem chi tiết

Tác dụng của phương pháp dưỡng sinh Nguyễn Văn Hưởng trên đối tượng công nhân phơi nhiễm xăng dầu có hội chứng nhiễm độc Benzen nghề nghiệp

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Võ Lưu Hoà, Nguyễn Thị Vân Anh, Đỗ Thị Phương

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phương pháp dưỡng sinh (PPDS) của bác sỹ Nguyễn Văn Hưởng (NVH) trên đối tượng công nhân phơi nhiễm xăng dầu có hội chứng nhiễm độc benzen nghề nghiệp trên một số chỉ tiêu lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng: có sự cải thiện rõ rệt các triệu chứng suy nhược (SNCT), rối loạn giấc ngủ và hoạt độ men khử gốc tự do sau điều trị so với trước điều trị trên cả hai nhóm tập luyện theo PPDS của NVH và PP Hubbard và mức kết quả đạt được tương đương giữa 2 nhóm. PPDS của NVH có tác dụng cải thiện sức khoẻ cho đối tượng công nhân phơi nhiễm xăng dầu có hội chứng nhiễm độc benzene nghề nghiệp

Xem chi tiết

Nguồn cây thuốc và kinh nghiệm sử dụng cây thuốc bản địa của người tày ở xã Tân Pheo, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Đỗ Thị Phương, Nguyễn Thị Vinh, Ngô Đức Phương

Nghiên cứu được thực hiện nhằm điều tra nguồn dược liệu hiện có và khảo sát kinh nghiệm sử dụng cây thuốc bản địa trong chăm sóc sức khỏe của người Tày ở xã Tân Pheo, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình. Kết quả nghiên cứu cho thấy: đã lập được danh lục 202 loài cây thuốc thường dùng trong phòng và chữa bệnh của người Tày ở xã Tân Pheo, huyện Đà Bắc, tỉnh Hòa Bình, trong đó có 135 loài đã xác định được tên phổ thông, tên, họ khoa học thuộc 65 họ thực vật khác nhau. Trong số này có 28 loài có tên trong Dược điển Việt Nam xuất bản lần thứ tư, 11 loài cây thuốc trong diện cần bảo tồn quốc gia. Bộ phận cây được dùng nhiều nhất là toàn cây thuốc. Phương thức dùng thuốc gồm dùng trong, dùng ngoài và dùng kết hợp. Thống kê được 44 bài thuốc Nam kinh nghiệm chữa 6 nhóm bệnh khác nhau.

Xem chi tiết

Hiệu quả của điện châm và thủy châm Vincozyn trong điều trị nhồi máu năo sau giai đoạn cấp tại bệnh viện Châm cứu Trung ương

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Ngô Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Thanh Thủy

Nhồi máu não (NMN) là bệnh lý thần kinh phổ biến, là nguyên nhân quan trọng gây tử vong và để lại di chứng rất nặng nề. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động (PHCNVĐ) và tác dụng không mong muốn của phương pháp điện châm kết hợp thủy châm Vincozyn trong điều trị NMN sau giai đoạn cấp. Kết quả chỉ ra rằng: 90% BN cải thiện độ liệt Rankin, 86,7% BN cải thiện chỉ số Barthel và Orgogoro. Mức chênh điểm Barthel và Orgogoro trước và sau điều trị là 30,33 ± 12,10 và 24,33 ± 10,15 (p < 0,01). Điện châm kết hợp thủy châm Vincozyn có tác dụng PHCNVĐ ở BN NMN sau giai đoạn cấp và chưa thấy tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và cận lâm sàng.

Xem chi tiết

Tác dụng giảm đau sớm của điện châm nhóm huyệt “AT1” trên bệnh nhân sau mổ trĩ bằng phương pháp Milligan - Morgan

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Bùi Tiến Hưng, Nghiêm Thị Thu Thủy

Điều trị giảm đau sau mổ trĩ bằng châm cứu là một phương pháp dễ sử dụng, đạt hiệu quả cao, đặc biệt hạn chế được tác dụng phụ của thuốc giảm đau. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng giảm đau sớm của điện châm nhóm huyệt "AT1” trên bệnh nhân sau mổ trĩ theo phương pháp Milligan-Morgan và theo dõi tác dụng không mong muốn của điện châm nhóm huyệt ”AT1” trên lâm sàng. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Đã tiến hành điều trị giảm đau sau mổ trĩ bằng phương pháp điện châm nhóm huyệt "AT1" trên 30 bệnh nhân và nhóm chứng tiêm bắp Feldene 20mg, cho thấy tác dụng giảm đau của châm cứu tương đương với Feldene với độ tin cậy 95%.

Xem chi tiết

Điều trị hội chứng co cứng cơ vùng cổ gáy bằng phương pháp điện châm

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Trần Thị Hải Vân, Phương Việt Nga

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng điều trị hội chứng co cứng cơ vùng cổ gáy bằng phương pháp điện châm và khảo sát một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị. Kết quả và kết luận: Điện châm có tác dụng giảm đau và phục hồi chức năng cột sống cổ ở bệnh nhân có hội chứng co cứng cơ vùng cổ gáy. Điểm đau trung bình theo VAS giảm từ 6,67 ± 1,21 xuống 2,96 ± 2,36 điểm (p < 0,05), có 26,67% bệnh nhân không đau và tỷ lệ bệnh nhân đau ít tăng từ 6,67% lên 40%. 60% số bệnh nhân chức năng cột sống cổ trở về bình thường, 40% số bệnh nhân chức năng cột sống cổ hạn chế ít. Điều trị hội chứng co cứng cơ vùng cổ gáy bằng điện châm ở những bệnh nhân lứa tuổi <45, thời gian mắc bệnh ≤ 2 tuần và thể phong hàn thấp tý đạt hiệu quả cao hơn.

Xem chi tiết

Tác dụng phục hồi vận động ở bệnh nhân nhồi máu năo bằng đầu châm kết hợp với thể châm và thuốc y học cổ truyền

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 5.1

Tác giả: Nguyễn Nhược Kim, Dương trọng Nghĩa, Vũ Thị Hải Yến

Đầu châm là một phương pháp được ứng dụng khá rộng rãi trên thế giới để điều trị phục hồi di chứng tai biến mạch máu não (TBMMN). Mục tiêu: Đánh giá tác dụng phục hồi vận động ở bệnh nhân TBMMN bằng thể châm, thuốc YHCT kết hợp với đầu châm và mức độ an toàn của phương pháp này. Kết quả nghiên cứu cho thấy: Bệnh nhân cả 2 nhóm đều phục hồi vận động tốt theo độ liệt Rankin, điểm Orgogozo và Barthel với p < 0,01, trong đó nhóm nghiên cứu có kết quả tốt hơn nhóm chứng với p < 0,05. Đầu châm là một phương pháp an toàn và hiệu quả trong điều trị phục hồi di chứng TBMMN.

Xem chi tiết