Nghiên cứu gánh nặng tử vong do ung thư tại huyện Phù Cát tỉnh Bình Định

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Phạm Thị Thanh Tân, Trần Lê Giang, Hoàng Hoa Sơn

Tiến hành nghiên cứu gánh nặng tử vong do ung thư tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định từ 2002 - 2006 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy) và cập nhật số liệu tử vong. Mục tiêu: (1) Điều tra thực trạng tử vong do ung thư từ 2002 - 2006 tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và (2) Xác định gánh nặng tử vong do ung thư theo chỉ số YLLs (Years Lost Life: số năm bị mất do chết sớm) từ 2002 - 2006. Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ các trường hợp tử vong do ung thư từ ngày 1/1/2002 đến ngày 31/12/2006 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp nghiên cứu: phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong trung bình do ung thư trên tổng số tử vong trong 5 năm là 14,54%, cao nhất năm 2005 (17,4%), thấp nhất là năm 2002 (13,13%). Tử vong do ung thư chủ yếu là ung thư hệ tiêu hóa. Tính trên 105 người dân từ 2002 - 2006 là 22,42 x 10-5 ; 26,45 x 10-5 ; 34,01 x 10-5 ; 27,52 x 10-5 và 25,29 x 10-5 . Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong do ung thư trên 105 người dân từ năm 2002 - 2006 theo thứ tự: 40,68 x 10-5 ; 48,23 x 10-5 ; 56,17 x 10-5 ; 46,38 x 10-5 ; 40,46 x 10-5 .(2) Gánh nặng tử vong do ung thư từ năm 2002 - 2006 theo thứ tự là: 870,86 x 10 - 5; 1036,64 x 10-5 ; 1089,15 x 10-5 ; 853,92 x 10-5 ; 828,38 x 10-5 .

Xem chi tiết

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA KHÍ CỤ GIỮ KHOẢNG, NỚI KHOẢNG GẮN CHẶT SAU KHI NHỔ RĂNG 5 SỮA SỚM

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 5

Tác giả: Hoàng Việt Hải

Sự nghiêng trục và di chuyển răng sau khi nhổ sớm răng 5 sữa làm thiếu chỗ mọc của răng 5 vĩnh viễn. Mục tiêu: (1). Đánh giá mức độ thu hẹp khoảng do sự nghiêng trục và di lệch răng sau khi nhổ răng 5 sữa sớm. (2). Đánh giá hiệu quả điều trị của khí cụ giữ khoảng và nới khoảng gắn chặt sau khi nhổ răng 5 sữa sớm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu can thiệp trên 31 bệnh nhân có răng 5 sữa bị nhổ sớm. Phân tích phim và mẫu để đánh giá mức độ thu hẹp khoảng do nghiêng trục và di lệch răng, chỉ định giữ khoảng cho trường hợp đủ chỗ cho răng 5 vĩnh viễn và nới khoảng cho trường hợp không đủ chỗ. Kết quả: khoảng bị mất 6,42 ± 0,62 mm và 3,78 ± 0,71 mm tương ứng với nhổ răng 5 sữa trước và sau khi mọc răng 6. Kết quả của khí cụ giữ khoảng gắn chặt đạt 92,9% tốt và 7,1% khá, của khí cụ nới khoảng gắn chặt đạt 88% tốt, khá 8% và kém là 4%. Kết luận: sau khi nhổ răng 5 sữa sớm, các răng kế cận sẽ nghiêng trục và di lệch vào khoảng mất răng. Khí cụ giữ khoảng và nới khoảng gắn chặt rất có hiệu quả trong việc duy trì khoảng và lấy lại khoảng đã bị thu hẹp

Xem chi tiết

The 5-Minute Clinical Consult Standard 2015 (23rd edition)

Chủ biên: Frank J. Domino

Nhà xuất bản: Wolters Kluwer

The 5-Minute Clinical Consult provides rapid-access information on the diagnosis, treatment, medications, follow-up, and associated conditions of more than 700 medical conditions. Organized alphabetically by diagnosis, this best-selling clinical reference continues to present brief, bulleted points on disease topics in a consistent templated format. The 5-Minute Clinical Consult is presented in two formats: Standard (print only) and Premium (print + 1-year online access).

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng trẻ dưới 5 tuổi dân tộc thái tại huyện Quan Sơn, Thanh Hóa trong 5 năm 2007 – 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trịnh Xuân Thủy, Phạm Văn Phú, Phạm Tùng Sơn

Nghiên cứu nhằm đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xu hướng thay đỗi tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) của trẻ em dưới 5 tuổi dân tộc Thái ở huyện Quan Sơn - Thanh Hóa trong 5 năm 2007 - 2011. Kết quả cho thấy tình trạng dinh dưỡng tỷ lệ SDD thể nhẹ cân là 26,1%. SDD tăng dần theo độ tuổi từ18% ở năm tuổi thứ nhất và cao nhất ở nhóm tuổi 48 - 59 tháng (30,9%). SDD thể thấp còi trong 3 năm 2009-2010 là 53,4%; cao nhất vào năm tuổi thứ 3 (57,5%). Trong 5 năm 2007 - 2011: SDD thể nhẹ cân năm 2008 so với 2007 không những không giảm mà còn có xu hướng tăng, thể SDD này giảm nhiều vào năm 2009 nhưng sau đó lại có xu hướng tăng trở lại vào các năm 2010 và 2011. SDD thể thấp CÒI từ năm 2009 đến năm 2011 cũng có xu hướng tăng dần.

Xem chi tiết

Xác định tính đặc hiệu enzym giới hạn bằng phân tích đầu tận cùng của các đoạn ADN bị cắt

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 3

Tác giả: Lê Thị Kim Tuyến

Các enzym giới hạn cắt ADN kép ở các vị trí đặc hiệu ngoài hoặc trong trình tự nucleotid được nhận ra và để lại 3 dạng các đầu tận cùng: phẳng; chéo có ADN đơn 3’ thừa, chéo có ADN đơn 5’ thừa. Nghiên cứu này dùng một phương pháp cho phép xác định kiểu cắt của các enzym giới hạn. Phương pháp giải trình tự Sanger được sử dụng để phân tích ADN ở xung quanh vị trí cắt nhưng dùng chất không phóng xạ. Song song các đoạn ADN tổng hợp kéo dài được cắt bằng enzym giới hạn. Phản ứng Klenow mang hai hoạt tính là tổng hợp ADN 5’→ 3’ và exonucleasa 3’→ 5’ cho phép xác định kiểu cắt của enzym giới hạn. Kết quả đã cho phép xác định vị trí cắt của hai enzym mới. Điểm cắt Sml I nằm trong trình tự đối xứng được nhận: 5’- C↓ TPuPy A↑G - 3’. BciV I nhận ra một trình tự không đối xứng và cắt ngoài vị trí nhận : 5’ - GTATCC(N)6 ↓ - 3’/3’- CATAGG(N)5↑ - 5’.

Xem chi tiết

Tỷ lệ mắc nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì, Hà Nội năm 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Số 1

Tác giả: Nguyễn Phương Hoa

Hiện nay, ở nhóm trẻ dưới 5 tuổi, nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính (ARI) có số bệnh nhân mắc và tử vong chiếm tỷ lệ cao nhất. Nghiên cứu nhằm mục tiêu mô tả một số yếu tố liên quan và tỷ lê mắc ARI ở trẻ dưới 5 tuổi tại huyện Ba Vì - Hà Nội năm 2010. Kết quả cho thấy, trong một tháng, 72% trẻ dưới 5 tuổi bị mắc ARI. Tỷ lệ này ở trẻ gái cao hơn trẻ trai (75% so với 71%, p < 0,05). Nhóm trẻ từ 12 - 60 tháng tuổi có tỷ lệ mắc ARI cao nhất (76,8%). Trẻ thuộc hộ gia đình có điều kiện kinh tế thấp, mẹ làm ruộng có tỷ lệ mắc ARI cao hơn so với trẻ ở những nhóm khác (p < 0,05). Cần chú trọng công tác truyền thông phòng chống ARI cho trẻ dưới 5 tuổi nhằm làm giảm tỷ lệ mắc ARI, đặc biệt lưu ý đối với các hộ nghèo có trẻ.

Xem chi tiết

Tăng trưởng về chiều cao trẻ em dưới 5 tuổi ở Việt Nam giai đoạn 1985-2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Lê Danh Tuyên, Lê Thị Hợp

Tăng trưởng chiều cao ở trẻ em là chỉ số có ỷ nghĩa về chăm sóc sức khỏe và dinh dưỡng của cộng đồng. Báo cáo phân tích các số liệu chiều cao trung bình trẻ em dưới 5 tuổi qua các bộ số liệu tổng điều tra dinh dưỡng được thực hiện từ năm 1985 đến 2010. Kết quả cho thấy từ năm 1985 đến 2010 cho thấy: trẻ trai và gái 2 tuổi chiều dài tăng trung bình cho một thập kỷ cùng là 2,48 cm. Trẻ trai 3 tuổi tăng chiều cao trung bình cho một thập kỷ là 2,10 cm, trẻ gái 3 tuổi tăng trung bình một thập kỷ cao hơn trẻ trai (2,48 cm). Trẻ trai 5 tuổi tăng chiều cao trung bình cho một thập kỷ là 2,40 cm và trẻ gái 5 tuổi là 2,24 cm. Từ đó có thể kết luận, cùng với những thành tựu to lớn về kinh tế xã hội và cải thiện chăm sóc y tế, dinh dưỡng thì sự gia tăng chiều cao trẻ em dưới 5 tuổi được quan sát rõ trong giai đoạn 25 năm qua (từ 1985 đến 2010).

Xem chi tiết

Đánh giá hiệu quả kiểm soát hen phế quản trẻ em

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Lê Thị Minh Hương, Cù Minh Hiền, Đào Minh Tuấn

Hen phế quản (HPQ) là bệnh mạn tính đường thở, có tỷ lệ lưu hành cao. Tuy nhiên tỷ lệ kiểm soát hen còn rất thấp ở trẻ em. Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả kiểm soát HPQ trẻ em theo hướng dẫn của GINA 2008. Từ 1/ 5/2009 - 1/5/2010 có 258 bệnh nhân hen được theo dõi điều trị dự phòng từ 3 tháng đến 9 tháng. 44,2% ≤ 5 tuổi; 55,8% trên 5 tuổi. Nam/nữ: 2/1. Bậc hen: 70,2%; trẻ ≤ 5 tuổi hen bậc II; 75,7% trẻ trên 5 tuổi hen bậc III. Tỷ lệ bệnh nhân đạt kiểm soát hen hoàn toàn tăng dần theo thời gian điều trị dự phòng sau 1, 3, 6, 9 tháng là s51,9%; 72,5%; 83,7% và 87%. Quản lý điều trị dự phòng hen góp phần cải thiện mức độ kiểm soát hen ở trẻ em. Từ khóa: Hen phế quản, mức kiểm soát hen, trẻ em

Xem chi tiết

Nghiên cứu mô bệnh học đặc điểm xâm nhập của ung thư dạ dày vào thành dạ dày phía trên u

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trịnh Quang Diện

Qua nghiên cứu các diện cắt cách bờ trên u 3 cm và 5 cm của 125 ung thư biểu mô dạ dày, tác giả đã thu được kết quả sau: Tỷ lệ còn tổ chức unh thư ở đường cắt cách bờ trên u 3 cm và 5 cm tương ứng là 20,8% và 10,4%. Tỷ lệ còn tổ chức ung thư ở đường cắt 3 cm và 5 cm cao hơn ở típ lan toả so với típ ruột (28,3% so với 16,5% và 15,2% so với 7,6%), ở những Carrcinôm không biệt hoá, carcinôm tuyến nhầy và carcinôm tế bào nhẫn so với carcinôm tuyến ống (36,8%, 37,5% và 26,3% so với 9,7% ở diện cắt 3 cm và 21,1%, 18,8% và 10,5% so với 3,2% ở diện cắt 5 cm), ở những khối u có đường kính > 2 cm và  5 cm so với các khối u  2 cm (27% so với 7,1% ở diện cắt 3 cm và 14,3% so với 0% ở diện cắt 5 cm), ở những carcinôm xâm nhập thanh mạc so với những carcinôm mới chỉ xâm nhập niêm mạc hoặc hạ niêm mạc và cơ hoặc dưới thanh mạc và cuối cùng ở những carcinôm gây di căn từ 7 đến 15 hạch so với các u chưa có di căn hạch (4,7% so với 11,4% ở diện cắt 3 cm và 16,7% so với 4,5% ở diện cắt 5 cm).

Xem chi tiết

U cuộn mạch dưới móng: nhân 5 trường hợp

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Trung Dũng, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Liễu, Trịnh Tiên Phong

U cuộn mạch dưới móng là tổn thương hiếm gặp. Nhân 5 trường hợp được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật thành công, xin được giới thiệu các ca lâm sàng và điểm lại y văn về chẩn đoán, điều trị và đặc điểm tổn thương giải phẫu bệnh của bệnh lý này.

Xem chi tiết