Nhạy cảm ngà răng ở cán bộ công ty Than Thống nhất tỉnh Quảng Ninh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Tống Minh Sơn

Nhạy cảm ngà răng thường gặp và có liên quan đến các bệnh nhân. Các nghiên cứu đã được công bố cho kết quả về tỷ lệ nhạy cảm ngà răng rất khác nhau. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ nhạy cảm ngà răng của công nhân đang làm việc tại mỏ than Quảng Ninh. Kỹ thuật để đánh giá nhạy cảm ngà răng là thổi hơi. Sự phản ứng của người được khám với kích thích hơi được đo bằng hệ thống chia độ Schiff. Tỷ lệ nhạy cảm ngà là 9,07%. Tổn thương tổ chức cứng ở vùng cổ răng là tổn thương chủ yếu của nhạy cảm ngà răng.

Xem chi tiết

Điều trị nẹp vít tự tiêu trong gãy xương gò má cung tiếp

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Trương Mạnh Dũng

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả điều trị nẹp vít tự tiêu trong gãy xương gò má cung tiếp tại bệnh viện Răng Hàm Mặt Trung ương và Bệnh viện Hữu nghị Việt Nam - Cu Ba, Hà Nội. Kết quả cho thấy: về giải phẫu, kết quả điều trị trước khi ra viện, sau mổ 6 tuần và sau mổ 3 tháng đều ở mức độ tốt (100%). Về chức năng, kết quả điều trị ở mức độ tốt trước khi ra viện đạt 10,5%, sau phẫu thuật 6 tuần là 68,4% và sau 3 tháng là 100%. Về thẩm mỹ, kết quả điều trị trước khi ra viện ở mức độ tốt là 21,1%, sau mổ 6 tuần là 78,9% và sau mổ 3 tháng là 100%. Điều trị gãy xương gò má cung tiếp có sử dụng nẹp vít tự tiêu đã đạt được nhiều kết quả tốt.

Xem chi tiết

Nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Đoàn Hồ Điệp, Trần Ngọc Phương Thảo, Hoàng Đạo Bảo Trâm

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và mức độ nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi, có sức khỏe toàn thân và răng miệng tốt và có nhu cầu điều trị tẩy trắng răng. Tình trạng nhạy cảm ngà răng được đánh giá trong điều kiện không kích thích và có kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh, trên các răng trước hàm trên, theo thang đánh giá 4 mức độ (0 - 3). 100% bệnh nhân không nhạy cảm ngà trong điều kiện không kích thích; tỷ lệ bệnh nhân có nhạy cảm ngà với kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh là 47%, trong đó 2% do kích thích luồng hơi và 45% do kích thích lạnh; tất cả các trường hợp nhạy cảm đều ở mức độ nhẹ (mức độ 1); răng cửa có tỷ lệ nhạy cảm ngà cao hơn răng nanh, khác biệt có ý nghĩa; không có khác biệt về tỷ lệ và mức độ nhạy cảm giữa bên phải và bên trái; tỷ lệ nhạy cảm ngà ở nữ cao hơn ở nam, khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Xem chi tiết

Ứng dụng vạt đùi trước - ngoài tự do trong điều trị khuyết hổng phần mềm của chi thể

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Ngô Thái Hưng, Nguyễn Việt Tiến, Lê Văn Đoàn, Nguyễn Thế Hoàng, Nguyễn Văn Phú, Vũ Minh Hiệp

Từ tháng 4 năm 1998 đến tháng 5 năm 2012 chúng tôi đã tạo hình 52 khuyết hổng phần mềm ở chi thể cho 52 bệnh nhân (tuổi từ 12 đến 75, trung bình 32,5) bằng vạt đùi trước ngoài dưới dạng tự do. Dạng vạt được sử dụng bao gồm: 6 vạt làm mỏng, 32 vạt da - cân, 14 vạt da - cơ. Chiều dài vạt từ 8 - 35 cm, chiều rộng từ 6 - 18 cm. Tỷ lệ của vạt sống hoàn toàn là 50/52, 1 vạt hoại tử một phần, 1 vạt hoại tử toàn bộ do tắc mạch. Kết quả 51/52 tổn khuyết liền sẹo ổn định, 1 tổn khuyết sau lấy bỏ vạt hoại tử phải sử dụng máy hút dẫn lưu kín, áp lực âm (VAC) và ghép da để che phủ. Tại nơi cho vạt: 51/52 liền sẹo kỳ đầu, 1/52 liền sẹo kỳ sau. Vạt đùi trước ngoài là vạt có kích thước lớn, cuống mạch dài, hằng định, đường kính lớn, phù hợp nhiều dạng tổn thương, phù hợp cho tạo hình phủ những khuyết hổng phần mềm ở chi thể.

Xem chi tiết

Liên quan giữa các chỉ số re, se (entropy) của điện não số hóa với nồng độ phế nang tối thiểu (mac) của sevofluran trong gây mê hô hấp

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Hoàng Văn Bách, Công Quyết Thắng, Nguyễn Quốc Kính

Nghiên cứu tiến cứu trên 72 bệnh nhân mổ mở vùng ngực bụng và hai chi dưới được gây mê nội khí quản bằng các thuốc fentanyl, sevofluran và rocuronium. Áp dụng kỹ thuật khởi mê nhanh, dung tích sống kết hợp hỗ trợ thở vào. Theo dõi và điều chỉnh độ mê dựa theo điện não số hóa (Entropy) và thang điểm lâm sàng PRST (blood Pressure, heart Rate, Sweat, and Tear). Kết quả: bệnh nhân không bị thức tỉnh và không đau trong mổ, xác định được mối tương quan tuyến tính nghịch giữa điện não số hóa với nồng độ phế nang tối của sevofluran trong gây mê.

Xem chi tiết

Vai trò tiên lượng độ nặng của nồng độ lactate máu ở bệnh nhân sau mổ tim mở

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Nguyễn Quốc Kính, Vũ Xuân Quang

Thiếu oxy tế bào gây chuyển hoá yếm khí dẫn đến tăng lactate máu ở bệnh nhân nặng. Nghiên cứu nhằm đánh giá vai trò tiên lượng độ nặng của nồng độ lactate máu ở bệnh nhân mổ tim mở. Kết quả cho thấy tăng nồng độ lactate máu trong và/hoặc sau mổ khi tăng nguy cơ EuroScore, kéo dài yếu tố thời gian (tuần hoàn ngoài cơ thể, cặp động mạch chủ, thở máy, lưu phòng hồi sức), lượng máu mất sau mổ, nhu cầu dùng catecholamin là tỷ lệ tử vong sau mổ. Ở nhóm tăng trong mổ, nồng độ lactate máu có xu hướng giảm dần sau mổ (giá trị đo ở T4 giảm > 10% so với giá trị đo ở T3). Ở nhóm tăng sau mổ, nồng độ lactate máu có xu hướng tăng dần trong 12 giờ đầu (giá trị đo ở T4 tăng so với giá trị đo ở T3). Nồng độ lactate máu là một chỉ số tốt để tiên lượng độ nặng ở bệnh nhân mổ tim mở.

Xem chi tiết

Biến đổi chức năng thất trái trên siêu Âm doppler mô truớc và sau điều trị can thiệp động mạch vành qua da ở bệnh nhân thiếu máu cơ tim cục bộ mạn tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Đỗ Phương Anh, Nguyễn Lân Việt, Trương Thanh Hương

Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp can thiệp động mạch vành qua da đối với sự biến đổi chức năng tim ở những bệnh nhân đau thắt ngực ổn định mạn tính bằng siêu âm Doppler mô cơ tim. Kết quả cho thấy so với trước can thiệp, vận tốc của mô cơ tim ở tất cả các vị trí khảo sát đều tăng lên một cách có ý nghĩa (p < 0,001). Kết luận: chức năng tâm thu và tâm trương của cả thất phải và thất trái khi khảo sát bằng phương pháp Doppler mô cơ tim ở các bệnh nhân đau ngực ổn định mạn tính đều được cải thiện ngay trong vòng 24h sau khi tiến hành thành công thủ thuật can thiệp động mạch vành qua da.

Xem chi tiết

Vai trò của adenosine trong nâng cao hiệu quả can thiệp động mạch vành qua da

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Nguyễn Mạnh Chiến, Nguyễn Quang Tuấn

Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của adenosine trên nồng độ các dấu ấn sinh học cơ tim sau can thiệp động mạch vành qua da. Kết quả nghiên cứu cho thấy: tiêm adenosine vào động mạch vành trước can thiệp có xu hướng làm giảm nồng độ CK-MB và troponin T chứng sau can thiệp so với nhóm chứng (p < 0,05); làm giảm nguy cơ hoại tử cơ tim liên quan đến can thiệp 59% so với nhóm chứng (RR = 0,41; 95% CI 0,19 - 0,90, p = 0,02); có xu hướng làm giảm nguy cơ nhồi máu cơ tim liên quan đến can thiệp 43% so với nhóm chứng (RR = 0,57; 95% CI 0,18 - 1,82, p = 0,33). Kết luận cho thấy tiêm adenosine vào động mạch vành trước can thiệp làm giảm nguy cơ hoại tử cơ tim liên quan đến can thiệp.

Xem chi tiết