Tác dụng nâng cao thể trạng của braspamin trên mô hình chuột gây giảm trọng lượng

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Lê Thị Minh Phương, Nguyễn Minh Huyền, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Thị Vinh Hà

Nghiên cứu nhằm đánh giá tác dụng nâng cao thể trạng của thuốc BRASPAMIN trên chuột gây giảm trọng lượng (GTL). Kết quả cho thấy thuốc BRASPAMIN khi dùng với liều 0,4g/kg/ngày (tương đương liều điều trị) và liều 0,6g/kg/ngày có tác dụng cải thiện trọng lượng, hỗ trợ tăng số lượng và chất lượng hồng cầu, đồng thời tăng nồng độ protein và albumin máu khi bổ sung cho chuột gây giảm trọng lượng.

Xem chi tiết

Hiệu quả điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp của thuốc “thông mạch sơ lạc hoàn”

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Ngô Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng điều trị của thuốc Thông mạch sơ lạc hoàn (TMSLH) và tác dụng không mong muốn của thuốc trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp. Kết quả cho thấy 93,33% bệnh nhâ cải thiện độ liệt Rankin và Orgogoro, 91,11% bệnh nhân cải thiện chỉ số Barthel. Mức chênh điểm Barthel và Orgogoro trước và sau điều trị là 34,22 ± 11,28 và 33,56 ± 11,36 (p < 0 ,01). Kết luận: TMSLH có tính an toàn và tác dụng tốt trong phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp.

Xem chi tiết

Xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Thị Nga, Hoàng Minh Hằng, Trần Thúy Nga

Nghiên cứu nhằm xây dựng phần mềm thi trắc nghiệm trên máy tính. Kết quả cho thấy chương trình Thi trắc nghiệm đã được áp dụng để tổ chức thực hiện việc thi hết môn Tin học cho tất cả các đối tượng: Sinh viên Y1, Cao học, CKI, CKII, CNĐDTC,… từ năm học 2009 -2010 đến nay. Chương trình đã đáp ứng được các tiêu chí: câu hỏi bao phủ chương trình, điểm thi phân loại được sinh viên. Chương trình thi trắc nghiệm trên máy tính ra đời đã giải quyết được phần lớn những khó khăn, vất vả trong việc thi cử. Ngoài ra, chương trình cũng đảm bảo tính công bằng, khách quan và giảm bớt tiêu cực trong thi cử.

Xem chi tiết

Khử khuẩn của tia gamma và ảnh hưởng đến độ bền mô xương vòm sọ chó bảo quản lạnh sâu

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Lê Thị Hồng Nhung, Ngô Duy Thìn

Nghiên cứu nhằm xác định hiệu quả tiêu diệt tụ cầu vàng của tia gamma ở ba liều khác nhau: 10; 15 và 25 kGy (kilo gray) và ảnh hưởng của nó lên độ bền của các mảnh xương sọ bảo quản lạnh sâu. Lấy 90 mảnh xương vòm sọ chó được gây nhiễm tụ cầu vàng, chia đều 3 lô, chiếu xạ tương ứng với 3 liều 10, 15, 25 kGy. Tạo 15 cặp mảnh xương vòm sọ chó có kích thước như nhau, lấy đối xứng qua đường dọc giữa xương vòm sọ. Lô chứng 15, chỉ bảo quản lạnh sâu, không chiếu tia gamma. Lô thực nghiệm 15 mảnh, chia làm 3 nhóm, mỗi nhóm 5 mảnh, chiếu tia gamma ở 3 liều tương ứng. Cấy khuẩn, đo độ bền các cặp xương ở mỗi lô và lô chứng. Kết quả nghiên cứu cho thấy 90 mảnh xương sọ được chiếu ở cả 3 liều đều không tìm thấy khuẩn tụ cầu vàng. Ở các mảnh xương chiếu liều 25 kGy độ bền giảm 10% so với các mảnh xương chứng.

Xem chi tiết

Sử dụng nhà tiêu và kiến thức thực hành về vệ sinh môi trường của người dân ở 2 xã vùng Nam bộ năm 2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Trần Quỳnh Anh, Hoàng Thị Thu Hà, Đặng Ngọc Lan

Nghiên cứu được thực hiện tại xã Ngọc Chúc, huyện Rồng Giềng, tỉnh Kiên Giang và xã Tam Phước, huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Mục tiêu nghiên cứu: mô tả tình hình sử dụng nhà tiêu hộ gia đình và kiến thức-thực hành về vệ sinh môi trường. Kết quả cho thấy tỷ lệ hộ gia đình có nhà tiêu ở xã Tam Phước là 87,7%, xã Ngọc Chúc là 81%; 95% nhà tiêu ở xã Tam Phước là thấm dội nước; 72,1% nhà tiêu ở xã Ngọc Chúc là cầu tiêu ao cá. Tỷ lệ nhà tiêu hợp vệ sinh ở xã Tam Phước và Ngọc Chúc lần lượt là 98% và 28%. Ở xã Ngọc Chúc, 84% người trả lời chỉ kể được một loại nhà tiêu hợp vệ sinh và 15% không biết loại nào; ở xã Tam Phước có 47% kể được một loại và 48% kể được 2 - 3 loại. Không có hộ gia đình nào ở Tam Phước dùng phân tươi bón ruộng hoặc nuôi cá trong khi tỷ lệ này ở Ngọc Chúc là 34%.

Xem chi tiết

Thực hành nuôi con bằng sữa mẹ của các bà mẹ vùng ven biển xã Hải Minh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Trần Thị Phúc Nguyệt, Hoàng Thị Hằng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả thực hành cho con bú và một số yếu tố liên quan đến thực hành nuôi con bú của các bà mẹ có con dưới 24 tháng tuổi tại xã Hải Minh, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Kết quả cho thấy tỷ lệ trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn đến 6 tháng tuổi là 63,0%. có 60,5% bà mẹ cho con bú sớm 1 giờ đầu sau sinh.Tồn tại một số thực hành nuôi con bằng sữa mẹ chưa tốt như 18% bà mẹ vắt bỏ sữa non, 41,7% bà mẹ cho rằng sữa non không có chất dinh dưỡng. Sự tồn tại của một số thói quen không tốt (2,5% bà mẹ uống nước tiểu trẻ trai buổi sáng) của các bà mẹ đã tác động đến thực hành nuôi con bằng sữa mẹ.

Xem chi tiết

Lây truyền virus viêm gan B từ mẹ sang trẻ sơ sinh qua biểu hiện gen core/precore

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Đàm Thị Tú Anh, Nguyễn Thị Vinh Hà

Nguy cơ lây truyền virus viêm gan B (HBV) từ những mẹ có đồng thời cả HBsAg và HBeAg sang con tăng 2,8 - 4,6 lần so với các phụ nữ chỉ mang HBsAg đơn thuần. Để làm rõ hơn cơ chế sự lây truyền và định hướng phòng bệnh cho trẻ, chúng tôi tiến hành đề tài với mục tiệu: Xác định sự lây truyền HBV qua sự biểu hiện gen Core/Precore ở các trẻ có mẹ HBsAg(+) ở thời điểm ngay sau sinh. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy tỷ lệ lây truyền gen Core/Precore từ mẹ sang con lần lượt là 7/8 và 5/8. Mẹ đồng thời mang HBsAg và HBeAg là 6/8.

Xem chi tiết

Sinh con thứ 3 trở lên và một số yếu tố liên quan của phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng tại 97 Điện Biên năm 2008

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Vương Thị Hòa, Nguyễn Thị Tỉnh

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên và một số yếu tố liên quan ở phụ nữ 15 - 49 tuổi có chồng tại huyện Điện Biên năm 2008. Kết quả cho thấy tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên là 28,2%. Kết hôn sớm < 20 tuổi, làm nghề khác nghề làm ruộng, trình độ văn hóa thấp, ít biết về các biện pháp tránh thai, sống ở vùng cao là các yếu tố làm tăng tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ huyện Điện Biên. Tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên của phụ nữ Điện Biên là khá cao 28,2%. Cần tăng cường hơn nữa công tác truyền thông cho chị em phụ nữ về lợi ích và các phương pháp sinh đẻ có kế hoạch nhằm giảm tỷ lệ sinh con thứ 3 trở lên, góp phần ổn định dân số, thúc đẩy quá trình phát triển kinh tế xã hội.

Xem chi tiết

Tác dụng chống viêm của bài thuốc Nhị chỉ thang trên thực nghiệm

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Nguyễn Bội Hương, Phạm Thị Vân Anh, Nguyễn Thị Thu Hà

Viêm trực tràng chảy máu sau tia xạ ung thư cổ tử cung đang là một vấn đề nan giải trong thực hành lâm sàng của cả Y học cổ truyền và Y học hiện đại. Bài thuốc Nhị chỉ thang với các tác dụng kiện tỳ, chỉ huyết, chỉ thống được áp dụng để điều trị tình trạng trên. Nghiên cứu này đánh giá tác dụng chống viêm cấp và mạn tính của cao lỏng Nhị chỉ thang. Các kết quả nghiên cứu cho thấy với liều 61,44g/kg cao lỏng Nhị chỉ thang có tác dụng chống viêm cấp trên mô hình gây phù chân chuột cống bằng carrageenin, cao lỏng Nhị chỉ thang không có tác dụng chống viêm mạn tính trên chuột nhắt trắng trên mô hình gây viêm mạn tính bằng u hạt.

Xem chi tiết

Tác dụng của bài thuốc “tứ diệu thang” trên bệnh nhân gut

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Đỗ Thị Phương, Nguyễn Thị Oanh, Nguyễn Thị Thanh Tú

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu đánh giá tác dụng giảm đau, chống viêm, giảm nồng độ acid uric máu của bài thuốc và tác dụng không mong muốn của bài thuốc này trên lâm sàng. Kết quả cho thấy, về lâm sàng: Sau 30 ngày điều trị, điểm đau trung bình theo thang điểm Ritchie giảm từ 4,53 ± 1,87 điểm xuống 2,28 ± 1,12 điểm. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Chu vi trung bình của các khớp bàn ngón chân, khớp gối sau điều trị giảm có ý nghĩa thống kê với p < 0,05. Về cận lâm sàng: Hệ số K của tốc độ lắng máu sau 1 giờ và sau 2 giờ điều trị giảm so với trước điều trị. Nồng độ acid uric máu trung bình sau điều trị giảm hơn so với trước điều trị với p < 0,05. Sử dụng bài thuốc chưa phát hiện thấy tác dụng không mong muốn. Bài thuốc “Tứ diệu thang” có tác dụng cải thiện các triệu trứng lâm sàng và cận lâm sàng ở bệnh nhân gút và chưa thấy có tác dụng phụ.

Xem chi tiết