Assessment of anti-diabetic effect of Vietnamese herbal drugs

Tác giả: Nguyen Khanh Hoa

"The prevalence of type 2 diabetes mellitus is increasing in Vietnam as well as in other developing countries (China, Indian subcontinent, and Africa). Searching for hypoglycemic agents with origin from domestic herbals was considered as a useful way to find novel therapy of the disease. Afier treatment i.p. or orally of normal mice with extract of Anemarrhena asphodeloides (A.a.), Angiopteris evecta (A.e.) and Gynostemma pentaphyllum (G.p.), blood glucose levels of the mice were decreased. All of those 3 extracts also suppressed the rise in blood glucose in Il0l‘II18l mice during a glucose tolerance test. At both 3.3 and 16.7 mM glucose, 2, 4 and 8 mg/ml Anemarrhena asphodeloides (A.a. or TH2) increased the insulin release of Wistar (W) and Goto- Kakizaki (GK) rat islets. In perifusions of islets, A.a. also increased insulin secretion that retumed to basal levels when A.a. was omitted from the perifusate. Thus, ethanol extract of the roots of A.a. contains a substance, TH2, that stimulates insulin secretion from islets of normal W and GK rats. The mechanism behind TH2-stimulated insulin secretion involves an effect on the exocytotic machinery of the B-cell, mediated via pertussis toxin-sensitive Ge-proteins. G.p. extract had a hypoglycemic effect in rats and mice. We have isolated the active compound, phanoside, a gypenoside with molecular mass of 914.5 Da. When given orally to rats, phanoside (40 and 80 mg/kg) improved glucose tolerance and enhanced plasma insulin levels. Phanoside stimulated insulin release at 3.3 and 16.7 rnM glucose from isolated rat pancreatic islets of both W and GK rats. Interestingly, B- cell sensitivity to phanoside is higher at 16.7 mM than at 3.3 mM glucose, since significant insulin responses were observed with phanoside between 31.25 and 125 |.1M only at the high glucose levels. When W rat islets were incubated at 3.3 mM glucose with 150 uM phanoside and 0.25 mM diazoxide to keep K-ATP channels open, insulinrelease at 16.7 mM glucose. When using nimodipine to block L-type Ca“ chamiels in B-cells, phanoside-induced insulin secretion was unaffected at 3.3 mM glucose but decreased at 16.7 mM glucose. In perifusion of islets, phanoside (75 and 150 uM) dose-dependently increased insulin secretion that returned to basal levels when phanoside was omitted. Thus, the effect of phanoside seems to be exerted distal to K-ATP channels and L-type Ca2+ channels that is on the exocytotic machinery of the B-cells. In conclusion, from 8 Vietnamese herbal drugs, we .have found 3 extracts which decreased blood glucose of the mice. Two of them (A.a and G. p. extract) stimulated insulin secretion from rat islets. Ethanol extract of A.a. (TH2) stimulated insulin secretion by an effect on the exocytotic machinery of the B cell mediated via pertussis toxin sensitive Ge-protein. From G.p. we islolated a novel substance, phanoside, that directly stimulates the exocytosis of insulin. secretion was similar to that in islets incubated in 150 pM phanoside alone. At 16.7 mM glucose, phanoside-stimulated insulin secretion was reduced in the presence of 0.25 mM diazoxide. In W islets depolarized by 50 mM KCI and with diazoxide, phanoside stimulated insulin release 2-fold at 3.3 mM glucose but did not further increase the"

Xem chi tiết

Ung thư vú tại một số tỉnh/ thành phố trong 3 năm 2009-2011

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Bùi Diệu

Ung thư vú là loại ung thư phổ biến nhất ở phụ nữ và có tỉ lệ mới mắc đứng hàng đầu ở nhiều nước trên thế giới. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả sàng lọc ung thư vú tại một số tỉnh/ thành phố từ 2009-2011. Kết quả cho thấy qua khám sàng lọc 60.075 phụ nữ từ 40-54 tuổi tại 6 tỉnh/thành trong 3 năm 2009-2011 đã phát hiện được 0,08% ung thu vú (tỷ lệ phát hiện ung thư vú qua sàng lọc là 80/105), trong đó 25% ở giai đoạn I và 35,4% ở giai đoạn II.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng của tiền sản giật lên sức khoẻ thai nhi

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Lê Thiện Thái

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả ảnh hưởng của tiền sản giật lên sức khỏe của thai nhi. Kết quả cho thấy tỷ lệ phụ nữ mang thai có tiền sản giật (TSG) đẻ non là 42,2%, trẻ nhẹ cân là 30,8%, thai chết lưu là 2,9% và chết chu sinh là 9,8%. Ta có kết luận: thai phụ có tăng huyết áp tâm thu, tâm trương và có protein niệu có nguy cơ đẻ non, sinh con nhẹ cân và có nguy cơ tử vong cao. Cần theo dõi thật chặt chẽ thai phụ có tăng huyết áp và protein niệu.

Xem chi tiết

Sử dụng Robot trong phẫu thuật thay khớp gối toàn bộ

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Trần Trung Dũng

Sử dụng robot trong phẫu thuật thay khớp gối là một trong những tiến bộ mới của y học. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của việc sử dụng robot trong và ngay sau mổ trong phẫu thuật thay khớp gối toàn bộ. Kết quả nghiên cứu cho thấy trục chi trung bình sau mổ đạt được là 0,8o ± 1o; cân bằng khoảng gấp duỗi đạt được 95,5% các trường hợp. Thời gian phẫu thuật trung bình là 135 phút. Kết luận: Phẫu thuật thay khớp gối có sử dụng robot có những ưu điểm vượt trội trong việc phục hồi các yếu tố cơ học nhưng có nhược điểm là thời gian phẫu thuật kéo dài.

Xem chi tiết

Viêm tụy mạn tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn: nhân 1 trường hợp

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Phạm Hoàng Hà, Nguyễn Lập Cầu, Trần Mậu Việt

Tại bệnh viện tuyến tỉnh, chẩn đoán bệnh viêm tụy mạn hoàn toàn dựa vào các tiệu chứng lâm sàng và các phương pháp chẩn đoán hình ảnh có sẵn ở cơ sở. Nếu chẩn đoán đúng thì viêm tụy mạn có thể điều trị phẫu thuật tại bệnh viện tuyến tỉnh. Chúng tôi thông báo một trường hợp viêm tụy mạn có tiến triển ung thư tụy được chẩn đoán và điều trị tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lạng Sơn để nhắc lại quy trình chẩn đoán và điều trị bệnh lý này tại bệnh viện tuyến tỉnh

Xem chi tiết

Đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên bệnh viện huyện Tuy An và bệnh viện huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên năm 2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Vũ Hoàng Việt, Lê Cự Linh

Nghiên cứu nhằm đánh giá sự hài lòng đối với công việc của nhân viên Bệnh viện huyện Tuy An và Bệnh viện huyện Đông Hòa tỉnh Phú Yên năm 2010. Kết quả cho thấy yếu tố quan hệ đồng nghiệp được nhân viên bộ phận lâm sàng hài lòng cao nhất (66,7%), sau đó là yếu tố đặc điểm công việc 48,3%, sự quan tâm của lãnh đạo 46% và đào tạo 43,7%. Điều kiện làm việc, lương và chế độ là hai yếu tố chiếm tỷ lệ hài lòng thấp nhất (16,1% và 20,7%). Tỷ lệ hài lòng khá thấp ở tiểu mục biểu dương của lãnh đạo (khen mà không có thưởng) - ở mức 37,5%. Lãnh đạo còn quan tâm đến các phòng chức năng hơn các bộ phận chuyên môn trong bệnh viện.

Xem chi tiết

Tử vong do tai nạn giao thông đường bộ tại một số tỉnh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Phương Hoa, Phạm Thị Lan

Tai nạn giao thông đường bộ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm mô tả một số đặc điểm của các trường hợp tử vong do tai nạn đường bộ năm 2008 và 2009. Kết quả cho thấy phần lớn số trường hợp tử vong là nam giới (79%), phương tiện chủ yếu sử dụng khi tham gia giao thông là xe máy (58%) và độ tuổi từ 15 – 49 chiếm tỷ trọng lớn trong số các trường hợp tử vong – đây là độ tuổi lao động và sinh đẻ. 446 trường hợp (42%) ghi nhận được nguyên nhân trực tiếp gây tử vong với tỷ lệ bị chấn thương sọ não là cao nhất (77%). 80% số trường hợp bị tử vong trong ngày đầu tiên và 42% số trường hợp tử vong trước khi đến cấp cứu tại cơ sở y tế. Kết quả cho thấy cần quan tâm đến chất lượng của mũ bảo hiểm và hệ thống chăm sóc y tế với các trường hợp bị tai nạn giao thông đường bộ.

Xem chi tiết

Tử vong do tai nạn giao thông đường bộ tại một số tỉnh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Phương Hoa, Phạm Thị Lan

Tai nạn giao thông đường bộ là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây tử vong. Mục tiêu của nghiên cứu nhằm mô tả một số đặc điểm của các trường hợp tử vong do tai nạn đường bộ năm 2008 và 2009. Kết quả cho thấy phần lớn số trường hợp tử vong là nam giới (79%), phương tiện chủ yếu sử dụng khi tham gia giao thông là xe máy (58%) và độ tuổi từ 15 – 49 chiếm tỷ trọng lớn trong số các trường hợp tử vong – đây là độ tuổi lao động và sinh đẻ. 446 trường hợp (42%) ghi nhận được nguyên nhân trực tiếp gây tử vong với tỷ lệ bị chấn thương sọ não là cao nhất (77%). 80% số trường hợp bị tử vong trong ngày đầu tiên và 42% số trường hợp tử vong trước khi đến cấp cứu tại cơ sở y tế. Kết quả cho thấy cần quan tâm đến chất lượng của mũ bảo hiểm và hệ thống chăm sóc y tế với các trường hợp bị tai nạn giao thông đường bộ.

Xem chi tiết

Chi phí trực tiếp từ phía bệnh nhân cho điều trị bệnh lao ở Hà Nội, Quảng Nam và Bình Dương

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Đình Tuấn, Phạm Huy Tuấn Kiệt

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định chi phí trực tiếp từ phía bệnh nhân cho điều trị bệnh lao ở Việt Nam và phân tích một số yếu tố ảnh hưởng. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tại 6 quận, huyện của TP Hà Nội, Quảng Nam và Bình Dương, thực hiện trong năm 2009 - 2010. Tổng số có 258 ca bệnh lao, trong đó, 186 (72,1%) là nam và 72 (27,9%) là nữ. Kết quả cho thấy chi phí trước điều trị và điều trị nội trú của bệnh nhân là lớn nhất với 26,05% và 65,86% tổng chi phí. Theo loại chi phí, chi phí cho ăn, nghỉ và cho khám, xét nghiệm chiếm tới 40,56% và 30,42% tổng chi phí. Phát hiện sớm lao và điều trị DOTS tại tuyến y tế cơ sở sẽ giúp giảm chi phí điều trị bệnh lao cho bệnh nhân.

Xem chi tiết

Thực trạng mắc bệnh da và bệnh phong tại 4 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh da và bệnh phong tại 4 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh da chiếm 7,7% số người dân được khám, trong đó bệnh da dị ứng chiếm tỷ lệ cao nhất (28,1%), viêm da cơ địa 22,4%, viêm da mủ 17,3% và các bệnh nấm da có tỷ lệ 13,3% và sẩn ngứa, bệnh da do côn trùng ký sinh trùng là 11,5%. Phát hiện được 2 bệnh nhân phong tàn tật độ 0, thuộc nhóm PB (tỷ lệ phát hiện 4,53/100.000 dân). Kết luận: tỷ lệ mắc bệnh da là 7,7%, trong đó các bệnh da thường gặp là bệnh da dị ứng, viêm da cơ địa, bệnh nấm da và bệnh da do ký sinh trùng và côn trùng. Phát hiện được 2 bệnh nhân phong tàn tật độ 0 (tỷ lệ phát hiện 4,53/100.000 dân).

Xem chi tiết