U cuộn mạch dưới móng: nhân 5 trường hợp

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Trung Dũng, Nguyễn Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Liễu, Trịnh Tiên Phong

U cuộn mạch dưới móng là tổn thương hiếm gặp. Nhân 5 trường hợp được chẩn đoán và điều trị phẫu thuật thành công, xin được giới thiệu các ca lâm sàng và điểm lại y văn về chẩn đoán, điều trị và đặc điểm tổn thương giải phẫu bệnh của bệnh lý này.

Xem chi tiết

Phát hiện dị tật bẩm sinh thần kinh trung ương qua siêu âm

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Lưu Thị Hồng, Phạm Quang Vinh

Siêu âm là một phương pháp được sử dụng để sàng lọc trước sinh, trong thời gian nghiên cứu có 20 345 thai phụ được làm siêu âm, trong đó phát hiện được 926 thai phụ thai nhi có dị tật bẩm sinh (DTBS), có thai nhi mang một hay hai dị tật nên có 1206 dị tật. Dị tật thần kinh trung ương chiếm tỉ lệ 28,61%, cao nhất trong nghiên cứu này, trong số đó thai vô sọ chiếm tới 33,9%. Các thai bị DTBS thần kinh trung ương đều có chỉ định phá thai nhưng chỉ có 325 thai phụ đồng ý.

Xem chi tiết

Chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật nội soi khớp háng

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Trung Dũng

Vai trò của nội soi khớp háng trong chẩn đoán và điều trị các bệnh lý khớp háng. Nghiên cứu được thực hiện nhằm nhận xét về chỉ định và kỹ thuật phẫu thuật nội soi khớp háng. Kết quả nghiên cứu cho thấy các chỉ định chính là u xương sụn màng hoạt dịch chiếm 22,2%, rách sụn viền chiếm 33,3%, hội chứng impingement chiếm 26,7% và viêm màng hoạt dịch khớp háng chiếm 11,1%. Tư thế phẫu thuật chủ yếu là nằm ngửa, kéo chân và sử dụng đường vào trước và trước ngoài. Ta có kết luận: Nội soi khớp háng đã góp phần nâng cao khả năng chẩn đoán và điều trị các bệnh lý khớp háng.

Xem chi tiết

Phẫu thuật điều trị ngấn ối ở trẻ em

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hưng

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả về lâm sàng và chức năng của kỹ thuật phẫu thuật Sin plasty hai thì điều trị ngấn ối ở trẻ em. Kết quả cho thấy có 86 bệnh nhân (121 có ngấn ối) tuổi phẫu thuật trung bình: 1 tuổi 2 tháng. Có 3 Type ngấn ối: Type 1 trong 5 (4,1%), Type 2 trong 107 (88,5%), và Type 3 trong 9 (7,4%). Kết quả sau phẫu thuật: Tốt 73,6% và 26,4% khá. Tất cả bệnh nhân không có biến chứng, không có hoại tử da. Ta có kết luận: phẫu thuât tạo hình Sin

Xem chi tiết

Phân loại và mức độ nghe kém trong dị dạng ống tai ngoài bẩm sinh

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Cao Minh Thành

Nghiên cứu nhằm mô tả các loại nghe kém thường gặp trong dị dạng ống tai ngoài bẩm sinh. Kết quả cho thấy tỷ lệ nam/nữ = 2,5. Hẹp ống tai ngoài chiếm 83,3%. Dị dạng ống tai ngoài bẩm sinh loại A & B chiếm tỷ lệ 56,4%. Ta có kết luận: giảm nghe loại dẫn truyền thường gặp trong loại A & B chiếm tỷ lệ 75,0%. Loại C & D thường gặp loại nghe kém hỗn hợp và tiếp nhận.

Xem chi tiết

Đột biến gen COL1A2 ở bệnh nhi tạo xương bất toàn

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Bùi Thị Hồng Châu, Nguyễn Thu Thúy, Ôn Quang Phóng, Trần Vân Khánh, Hồ Cẩm Tú, Nguyễn Thị Hà, Tạ Thành Văn

Tạo xương bất toàn (Osteogenesis Imperfecta: OI) là một bệnh di truyền trội trên nhiễm sắc thể do đột biến gen tổng hợp collagen týp 1 (COL1A1,COL1A2). Nghiên cứu được thực hiện nhằm phát hiện đột biến gen COL1A2 trên bệnh nhi được chẩn đoán mắc bệnh OI dựa vào triệu chứng lâm sàng, hình ảnh X quang và tiền sử gãy xương tự nhiên; sử dụng kỹ thuật PCR và giải trình tự gen trực tiếp. Kết quả: Phát hiện 3/11 bệnh nhi OI có đột biến trên gen COL1A2.

Xem chi tiết

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM) áp dụng kỹ thuật khâu chỉ rút trong điều trị bệnh Glôcôm

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Cát Vân Anh

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM )kết hợp với kỹ thuật khâu chỉ rút đã phát huy được ưu điểm điều chỉnh nhãn áp tốt hơn ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật và hạn chế được biến chứng xẹp tiền phòng sau mổ glôcôm [9][41]. Schaffer và cộng sự là người đầu tiên đưa ra kỹ thuật khâu chỉ rút vào năm 1971 [8]. Sau đó, năm 1988 Cohen và Osher đã cải tiến và công bố kỹ thuật khâu chỉ rút mở qua đường giác mạc trong phẫu thuật cắt bè [6]. Từ đó có rất nhiều tác giả đề xuất nhiều cải tiến khác nhau nhưng phải đến năm 1994 kỹ thuật này mới được Kolker và Kass hoàn thiện [9]. Hiện nay kỹ thuật này vẫn đang được sử dụng khá phổ biến ở một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam [5].

Xem chi tiết

Đặc điểm lâm sàng của viêm da cơ địa ở trẻ em đến khám tại bệnh viện Da liễu Hà Nội

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mục tiêu mô tả đặc điểm lâm sàng của viêm da cơ địa (VDCĐ) ở trẻ em đến khám tại Bệnh viện Da liễu Hà Nội. Kết quả nghiên cứu cho thấy đặc điểm chính trong VDCĐ: ngứa gặp ở 100% bệnh nhân; tỷ lệ viêm da mạn tính, tái phát gặp ở 73,4% bệnh nhân. Ở nhóm trẻ <2 tuổi, vị trí thương tổn thường gặp ở mặt (75,0%) và thương tổn cơ bản thường gặp là mụn nước tiết dịch thành đám (66,0%). Trẻ từ 2-12 tuổi, thương tổn thường gặp ở mặt duỗi (78,5%) và tổn thương cơ bản thường gặp là lichen hóa. Trẻ >12 tuổi, vị trí thương tổn thường gặp ở nếp gấp (100%) và tổn thương cơ bản thường gặp là lichen hóa (100%), sẩn + mụn nước (75%). Tuổi phát bệnh sớm trước 2 tuổi là 83,3%, khô da chiếm 70%. Kết luận: 100% bệnh nhân có triệu chứng ngứa, 73,4% có viêm da mạn tính tái phát. Vị trí và các thương tổn thường gặp khác nhau theo nhóm tuổi.

Xem chi tiết

Kết quả điều trị ung thư dương vật bằng phẫu thuật MOHS tại bệnh viện Da liễu Trung ương

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Sỹ Hoá

Nghiên cứu được thực hiện nhắm đánh giá kết quả lâm sàng, tâm lý người bệnh sau phẫu thuật cắt bỏ đoạn dương vật do ung thư tế bào gai bằng phẫu thuật Mohs. Kết quả cho thấy 13 trong số 23 trường hợp ung thư tế bào vảy dương vật được phẫu thuật theo phương pháp Mohs. 69,9% bệnh nhân trên 50 tuổi. Sau 19 tháng theo dõi, không có trường hợp nào tái phát. Bệnh nhân thoải mái, hài lòng hơn trong sinh hoạt như tiểu tiện, quan hệ tình dục; chưa có trường hợp nào trở lại do tái phát. Phẫu thuật cắt đoạn dương vật do ung thư tế bào vảy theo phương pháp Mohs mang lại nhiều ưu điểm như giữ được tối đa đoạn dương vật sau cắt bỏ tổ chức ung thư, hoạt động tình dục, tiểu tiện tốt hơn các phương pháp khác. Tâm lý người bệnh được cải thiện hơn, ít mặc cảm hơn.

Xem chi tiết