Dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ 0-36 tháng tuổi tại các huyện đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Thị Tuyết Mai, Lê Thị Hợp, Vũ Hoàng Lan

Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành từ tháng 3 - 7 năm 2011, trên 810 bà mẹ và trẻ em từ 0 - 36 tháng tuổi tại 3 xã thuộc 3 huyện thị đồng bằng ven biển tỉnh Khánh Hòa nhằm xác định yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng (SDD). Kết quả cho thấy liên quan với cả 3 thể SDD nhẹ cân, thấp còi, gày còm là thực hành nuôi dưỡng trẻ nhỏ (NDTN) của bà mẹ, cân nặng sơ sinh thấp; liên quan với hai thể nhẹ cân và thấp còi là trẻ ăn bổ sung sớm; liên quan với suy dinh dưỡng thấp còi: Kiến thức NDTN kém, chi tiêu cho ăn uống thấp, có trên 2 con, trẻ đi nhà trẻ, mẫu giáo.

Xem chi tiết

Giá trị tiên lượng tử vong theo thang điểm CRIB ở trẻ đẻ non

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Phạm Thị Xuân Tú, Vũ Vân Yến, Nguyễn Thị Quỳnh Hương

Tỷ lệ tử vong ở trẻ đẻ non chiếm tỷ lệ cao (38%), để giúp hạ thấp tỷ lệ tử vong và tiện phân bổ nhân lực làm việc trong điều kiện quá tải về nhân lực và trang thiết bị, thang điểm CRIB đã ra đời. Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá giá trị tiên lượng tử vong theo thang điểm CRIB ở 667 trẻ sơ sinh đẻ non nhập viện tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/3/2008 đến 31/07/2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm trẻ có điểm số CRIB > 4 có nguy cơ tử vong cao gấp 13 lần so với nhóm có điểm số CRIB < 4 (RR = 13,3; p < 0,001). Tử vong thực tế cao hơn tử vong tiên lượng ở điểm CRIB 12 từ 4 - 10. Nhóm trẻ có điểm số CRIB > 11 có nguy cơ tử vong cao gấp 96 lần so với nhóm trẻ có điểm số CRIB 0 - 5 (RR = 96,06, p < 0,001). Ở nhóm trẻ có cân nặng < 1500g và/hoặc tuổi thai < 31 tuần, điểm số CRIB từ 0 - 5 có nguy cơ tử vong gấp 4 lần nhóm trẻ có cân nặng > 1500g và/hoặc tuổi thai > 31 tuần (RR = 4,2; p < 0,001). Tóm lại, điểm số CRIB > 4 có khả năng phân tách tốt giữa nhóm sống và nhóm tử vong. Nhóm trẻ đẻ non có điểm số CRIB > 11 có nguy cơ tử vong rất cao. Điểm số CRIB từ 0 - 5 có nguy cơ tử vong cao hơn ở nhóm trẻ có cân nặng < 1500g và/ hoặc tuổi thai < 31 tuần.

Xem chi tiết

Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA năm 2011 và các yếu tố nguy cơ

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Khoa Diệu Vân, Thái Thị Thanh Thúy

lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2011 và các yếu tố nguy cơ. Nghiên cứu sàng lọc 515 thai phụ làm nghiệm pháp dung nạp glucose và theo dõi 295 thai phụ đến kết thúc thai kỳ tại khoa Phụ Sản bệnh viện Bạch Mai, trong khoảng thời gian từ tháng 12/2011 đến tháng 8/2012 nhằm xác định tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ theo tiêu chuẩn ADA 2011. Kết quả cho thấy, tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ chẩn đoán theo tiêu chuẩn ADA 2011 là 39% cao hơn so với chẩn đoán theo tiêu chuẩn ADA 2010 (11,7%). Trong đó có 98,5% thai phụ chỉ cần thực hiện chế độ ăn và luyện tập đã đạt mục tiêu kiểm soát glucose máu.Tỷ lệ thai phụ có yếu tố nguy cơ là 19,2%. Tỷ lệ đái tháo đường thai kỳ tăng theo số lượng yếu tố nguy cơ, các thai phụ có trên 3 yếu tố nguy cơ thì 100% mắc đái tháo đường thai kỳ. Khi phân tích hồi quy logistic về mối tương quan theo tiêu chuẩn chẩn đoán đái tháo đường thai kỳ của ADA 2011 và các yếu tố nguy cơ thì tiền sử gia đình bị đái tháo đường, thừa cân béo phì là yếu tố nguy cơ độc lập. Kiểm soát glucose máu không tác động đến tỷ lệ mổ lấy thai: nhóm không đái tháo đường thai kỳ (58,6%), nhóm đái tháo đường thai kỳ đạt mục tiêu (58,2%), nhóm đái tháo đường thai kỳ không theo dõi (70%), không có sự khác biệt, p > 0,05. Kiểm soát glucose máu tốt làm giảm các nguy cơ tai biến sản khoa: tỷ lệ đẻ non (0%), thai chết lưu (0%); tai biến sơ sinh: tỷ lệ thai to (3,3%), tỷ lệ thai nhẹ cân (1,1%), tỷ lệ ngạt sơ sinh (0%).

Xem chi tiết

Thực trạng mắc bệnh da và bệnh phong tại 4 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.3

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh da và bệnh phong tại 4 xã thuộc 2 huyện Phù Mỹ và Phù Cát, tỉnh Bình Định. Kết quả cho thấy tỷ lệ mắc bệnh da chiếm 7,7% số người dân được khám, trong đó bệnh da dị ứng chiếm tỷ lệ cao nhất (28,1%), viêm da cơ địa 22,4%, viêm da mủ 17,3% và các bệnh nấm da có tỷ lệ 13,3% và sẩn ngứa, bệnh da do côn trùng ký sinh trùng là 11,5%. Phát hiện được 2 bệnh nhân phong tàn tật độ 0, thuộc nhóm PB (tỷ lệ phát hiện 4,53/100.000 dân). Kết luận: tỷ lệ mắc bệnh da là 7,7%, trong đó các bệnh da thường gặp là bệnh da dị ứng, viêm da cơ địa, bệnh nấm da và bệnh da do ký sinh trùng và côn trùng. Phát hiện được 2 bệnh nhân phong tàn tật độ 0 (tỷ lệ phát hiện 4,53/100.000 dân).

Xem chi tiết

Bệnh da và bệnh phong tại 4 xã huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh da và bệnh phong tại 4 xã huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa năm 2004. Kết quả cho thấy bệnh da chiếm tỷ lệ 8,0% trên số người dân được khám, trong đó bệnh viêm da cơ địa chiếm tỷ lệ cao nhất (32,3%), bệnh da dị ứng 17,6%, các bệnh da nhiễm khuẩn 14,8%. Bệnh nấm da khá cao 13,0%, bệnh sẩn ngứa và do ký sinh trùng và côn trùng là 12,9%. Phát hiện được 1 bệnh nhân phong tàn tật độ 0, thuộc thể T nhóm PB (tỷ lệ phát hiện « 6,4/100000 dân). Từ đó kết luận: tỷ lệ mắc bệnh da là 8,0%, trong đó các bệnh da thường gặp là bệnh da dị ứng, viêm da cơ địa, bệnh nấm da và bệnh da do ký sinh trùng và côn trùng. Phát hiện được 1 bệnh nhân phong tàn tật độ 0 (tỷ lệ phát hiện » 6,4/100000 dân).

Xem chi tiết

Hiệu quả điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp của thuốc “thông mạch sơ lạc hoàn”

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Ngô Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng điều trị của thuốc Thông mạch sơ lạc hoàn (TMSLH) và tác dụng không mong muốn của thuốc trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp. Kết quả cho thấy 93,33% bệnh nhâ cải thiện độ liệt Rankin và Orgogoro, 91,11% bệnh nhân cải thiện chỉ số Barthel. Mức chênh điểm Barthel và Orgogoro trước và sau điều trị là 34,22 ± 11,28 và 33,56 ± 11,36 (p < 0 ,01). Kết luận: TMSLH có tính an toàn và tác dụng tốt trong phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp.

Xem chi tiết

Xét nghiệm vi khuẩn lao trong chẩn đoán nguyên nhân tràn dịch màng phổi do lao

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Vũ Văn Giáp , Ngô Quý Châu) , Nguyễn Kiều Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng của bệnh nhân tràn dịch màng phổi (TDMP) do lao và xác định giá trị của các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn lao trong chẩn đoán TDMP do lao. Kết quả cho thấy bệnh thường gặp ở người trẻ tuổi (≤ 30 tuổi chiếm 35%), tỷ lệ nam/nữ là 1,71/1. Triệu chứng lâm sàng hay gặp là đau ngực (85%), ho (73,4%) và khó thở (71,7%). Tỷ lệ dương tính của các phương pháp xét nghiệm vi khuẩn lao không cao: nhuộm soi thuần nhất (0%), PCR DMP (11,7%), MGIT (3,3%). Kết luận: Độ nhạy của các phương pháp chẩn đoán vi sinh vật (nhuộm soi, PCR BK và nuôi cấy) trong chẩn đoán nguyên nhân TDMP do lao thấp.

Xem chi tiết

Kết quả điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật longo tại bệnh viện Hữu nghị 2008 - 2012

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thế Trường

Từ tháng 8/2008 đến tháng 9/2012 tại bệnh viện Hữu Nghị đã điều trị bệnh trĩ bằng phẫu thuật Longo cho 110 bệnh nhân bao gồm 85 nam (80,9%) và 27 nữ (25,5%), tuổi trung bình của bệnh nhân (65,35 ± 9,71), bệnh nhân là cán bộ đương chức (16,36%) và hưu trí (83,64%). Mục tiêu là mô tả đặc điểm lâm sàng bệnh trĩ và kết quả điều trị bệnh trĩ bằng phương pháp mổ Longo. Thời gian bệnh nhân mắc bệnh trĩ đến khi được mổ (64,5%) sau 5 năm. 68,1% bệnh nhân đã được điều trị nội khoa, can thiệp thủ thuật và phẫu thuật chữa trĩ không có kết quả. 61,8% bệnh nhân có bệnh nội khoa khác phối hợp. 86,4% bệnh nhân có đau rát hậu môn, đại tiện máu, sa búi trĩ. 80,9% bệnh nhân có trĩ độ 3 và độ 4. Mổ cấp cứu (4,5%). Thời gian mổ trung bình là 23,34 ± 8,10 phút. 95,4% bệnh nhân không có chảy máu sau mổ. 89,1% bệnh nhân không phải dùng thuốc giảm đau sau mổ. Kết quả sau mổ được đánh giá tốt (94,5%), trung bình (5,5%), xấu (0%). 100% bệnh nhân hài lòng với kết quả phẫu thuật.

Xem chi tiết

Kết quả ban đầu của phẫu thuật bướu giáp nhân bằng sử dụng dao cắt đốt siêu âm

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Trần Ngọc Lương

Theo kỹ thuật kinh điển, khi mổ tuyến giáp phải cặp cắt sau đó buộc hoặc khâu mạch máu, tổ chức. Mục tiêu của nghiên cứu là đánh giá kết quả nghiên cứu ban đầu của phẫu thuật bướu giáp nhân bằng sử dụng dao cắt đốt siêu âm. Đề tài đã sử dụng dao cắt đốt siêu âm (harmonic scalpel) để đốt cắt mạch máu và tổ chức của tuyến giáp ở trên 30 bệnh nhân chủ yếu là nữ (90%) với tuổi trung bình là 47,4 tuổi (25 - 60) bị bệnh bướu nhân đa số ở độ II (93,3%) tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương từ 9/7/2011 đến 3/1/2012. Kết quả cho thấy: thời gian mổ trung bình với cắt thùy là 34,1 ± 7,1 (25 - 50) phút, với cắt toàn bộ tuyến giáp là 48,6±12,8 (30 - 70) phút, lượng máu mất trong khi mổ rất thấp trung bình là 4,3 ± 4,1ml (0,5 - 15), lượng dịch sau mổ cũng rất ít trung bình là 7,4 ± 4,5 (0-20) ml. Không có trường hợp nào tê tây chân hay nói khàn vĩnh viễn, chỉ có 1 trường hợp tê tay chân tạm thời và nói khàn tạm thời (3,3%). Thời gian nằm viện trung bình 5,0 ± 3,1 (3 - 6) ngày. Như vậy sử dụng dao cắt đốt bằng siêu âm để phẫu thuật tuyến giáp an toàn, hiệu quả, với thời gian mổ rất nhanh.

Xem chi tiết

Nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 4.1

Tác giả: Đoàn Hồ Điệp, Trần Ngọc Phương Thảo, Hoàng Đạo Bảo Trâm

Nghiên cứu nhằm xác định tỷ lệ và mức độ nhạy cảm ngà răng ở đối tượng 18 đến 28 tuổi, có sức khỏe toàn thân và răng miệng tốt và có nhu cầu điều trị tẩy trắng răng. Tình trạng nhạy cảm ngà răng được đánh giá trong điều kiện không kích thích và có kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh, trên các răng trước hàm trên, theo thang đánh giá 4 mức độ (0 - 3). 100% bệnh nhân không nhạy cảm ngà trong điều kiện không kích thích; tỷ lệ bệnh nhân có nhạy cảm ngà với kích thích luồng hơi hoặc kích thích lạnh là 47%, trong đó 2% do kích thích luồng hơi và 45% do kích thích lạnh; tất cả các trường hợp nhạy cảm đều ở mức độ nhẹ (mức độ 1); răng cửa có tỷ lệ nhạy cảm ngà cao hơn răng nanh, khác biệt có ý nghĩa; không có khác biệt về tỷ lệ và mức độ nhạy cảm giữa bên phải và bên trái; tỷ lệ nhạy cảm ngà ở nữ cao hơn ở nam, khác biệt không có ý nghĩa thống kê.

Xem chi tiết