Giải thưởng Nobel Y sinh học năm 2002

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 1

Tác giả: Vũ Triệu An

Ngày 7 tháng 10 năm 2002, Hội đồng Giải thưởng Nobel của Viện Karolinska (Thụy Điển) đã quyết định trao giải Nobel về Y sinh học năm 2002 cho các nhà khoa học

Xem chi tiết

Gánh nặng tử vong từ 2002-2004 tại huyện Phù Cát – Bình Định

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Hoàng Hoa Sơn

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Phù Cát - Bình Định từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 tăng 1,32 lần so với năm 2002. Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm tuổi > 60 chiếm số lượng lớn, đặc biệt do các bệnh không truyền nhiễm. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 2,02 – 3,10/103; TNNĐ: 0,30 – 1,20/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, thai sản và dinh dưỡng có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,56 – 0,23/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (74,32 đến 129,56 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (36,63 – 62,99 năm/103 người).

Xem chi tiết

Nghiên cứu gánh nặng tử vong do ung thư tại huyện Phù Cát tỉnh Bình Định

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Phạm Thị Thanh Tân, Trần Lê Giang, Hoàng Hoa Sơn

Tiến hành nghiên cứu gánh nặng tử vong do ung thư tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định từ 2002 - 2006 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy) và cập nhật số liệu tử vong. Mục tiêu: (1) Điều tra thực trạng tử vong do ung thư từ 2002 - 2006 tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và (2) Xác định gánh nặng tử vong do ung thư theo chỉ số YLLs (Years Lost Life: số năm bị mất do chết sớm) từ 2002 - 2006. Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ các trường hợp tử vong do ung thư từ ngày 1/1/2002 đến ngày 31/12/2006 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp nghiên cứu: phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong trung bình do ung thư trên tổng số tử vong trong 5 năm là 14,54%, cao nhất năm 2005 (17,4%), thấp nhất là năm 2002 (13,13%). Tử vong do ung thư chủ yếu là ung thư hệ tiêu hóa. Tính trên 105 người dân từ 2002 - 2006 là 22,42 x 10-5 ; 26,45 x 10-5 ; 34,01 x 10-5 ; 27,52 x 10-5 và 25,29 x 10-5 . Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong do ung thư trên 105 người dân từ năm 2002 - 2006 theo thứ tự: 40,68 x 10-5 ; 48,23 x 10-5 ; 56,17 x 10-5 ; 46,38 x 10-5 ; 40,46 x 10-5 .(2) Gánh nặng tử vong do ung thư từ năm 2002 - 2006 theo thứ tự là: 870,86 x 10 - 5; 1036,64 x 10-5 ; 1089,15 x 10-5 ; 853,92 x 10-5 ; 828,38 x 10-5 .

Xem chi tiết

NGHIÊN CỨU GÁNH NẶNG TỬ VONG HUYỆN PHÙ CÁT, TỈNH BÌNH ĐỊNH

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng, Phạm Thị Thanh Tân, Trần Lê Giang, Hoàng Hoa Sơn

Tiến hành nghiên cứu gánh nặng tử vong tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định từ 2002 - 2006 bằng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy) và cấp nhật số liệu tử vong. Mục tiêu (1) Điều tra thực trạng tử vong từ 2002 - 2006 tại huyện Phù Cát, tỉnh Bình Định và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo chỉ số YLLs (Years Lost Life: số năm bị mất do chết sớm) từ 2002 - 2006. Đối tượng nghiên cứu: toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31/12/2006 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp nghiên cứu: phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: tỷ lệ tử vong cao nhất vào năm 2004 (4,08‰) và thấp nhất là năm 2005 (2,67‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm tuổi > 60 chiếm số lượng lớn, đặc biệt do các bệnh không truyền nhiễm. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong từ 2002 - 2006 theo thứ tự: 3,1‰; 3,3‰; 4,08‰; 2,67‰; 2,85‰. (2) Gánh nặng tử vong chung từ năm 2002 - 2006 thứ tự là: 55,87‰; 57,98‰; 73,82‰; 48,74‰ và 49,01‰.

Xem chi tiết

Thực trạng tử vong tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà N

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Ngọc Hùng

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 (5,2‰) tăng 1,22 lần so với năm 2002 (4,52‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm 0 – 4 tuổi và > 70 tuổi trong cả ba năm đều cao hơn các nhóm khác. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 3,26 – 4,03/103; TNNĐ: 0,53 – 0,58/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,73 – 0,58/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (99,95 đến 160,72 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (86,66 – 149,59 năm/ 103 người).

Xem chi tiết

Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Đặc điểm bệnh nhân được ghép giác mạc tại bệnh viện Mắt Trung ương trong giai đoạn 2002 - 2011

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 5

Tác giả: Phạm Ngọc Đông, Trương Như Hân

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá một số đặc điểm bệnh nhân và bệnh lý giác mạc đã được ghép giác mạc tại bệnh viện Mắt Trung ương trong giai đoạn 2002 - 2011. Nghiên cứu trên toàn bộ hồ sơ bệnh nhân đã ghép giác mạc trong giai đoạn 2002 - 2011. Các số liệu thu thập bao gồm tuổi, giới, nghề nghiệp, nơi cư trú, bệnh lý giác mạc được chỉ định ghép. Trong 10 năm, có 1016 bệnh nhân (1049 mắt) đã ghép giác mạc, trong đó có 58,8% bệnh nhân nam, đến từ 44 tỉnh thành trong cả nước. Tuổi bệnh nhân trung bình là 45,3. Có 63,8% người được ghép làm công việc lao động chân tay. Bệnh lý giác mạc được ghép theo thứ thự giảm dần là viêm loét giác mạc (53,4%), sẹo đục giác mạc (18,3%), loạn dưỡng giác mạc bẩm sinh di truyền (9,4%), ghép lại (6,5%), bệnh giác mạc bọng sau mổ thủy tinh thể (4,1%), bỏng giác mạc (4%). Các chỉ định ít gặp hơn là bệnh giác mạc hình chóp (1,4%), thoái hóa giác mạc (0,6%), mờ đục giác mạc bẩm sinh (0,5%) và một vài bệnh giác mạc khác. Trong 10 năm, bệnh viện Mắt Trung ương đã ghép giác mạc cho bệnh nhân ở 44 tỉnh thành trong cả nước. Bệnh lý giác mạc được ghép thường gặp nhất là viêm loét giác mạc. Các bệnh lý giác mạc không nhiễm trùng được ghép có xu hướng tăng dần.

Xem chi tiết