Vai trò của bão hòa oxy máu tĩnh mạch chủ trên trong gây mê và hồi sức bệnh nhân mổ tim mở

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Lê Xuân Hùng, Nguyễn Quốc Kính

SvO2 là một điểm đích của hồi sức nhưng cần đặt catête Swan-Ganz rất phức tạp, đắt tiền và nhiều biến chứng. Mục tiêu: (1) Đánh giá khả năng thay thế SvO2 bằng ScvO2; (2) Đánh giá vai trò của ScvOsub>2 để định hướng CI và SVR. Đối tượng và phương pháp: Nghiên cứu cắt dọc, phân tích. 35 bệnh nhân mổ tim mở được đặt catête Swan-Ganz vào động mạch phổi. Đo và tính mối tương quan, sự phù hợp giữa ScvO2 với SvO22 và với CI, SVR. Kết quả: Tổng số 135 mẫu. ScvO2 tương quan rất mạnh (r = 0,82; p < 0,01) và phù hợp tốt với SvO2. ScvO-2 tương quan đồng biến (r = 0,4) với CI nhưng nghịch biến mạnh (r = - 0,6) với SVR khi MAP < 65 mmHg. Kết luận: (1)Có thể dùng ScvO2 thay cho SvO2, (2) ScvO2 tương quan thuận với CI và nghịch với SVR ở bệnh nhân tụt huyết áp

Xem chi tiết

Nghiên cứu nồng độ adiponectin huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường type 2 phát hiện lần đầu có biến chứng tim mạch

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Phạm Thị Thu Vân, Phạm Thiện Ngọc, Nguyễn Khoa Diệu Vân

Biến chứng tim mạch (BCTM) là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở BN ĐTĐ typ 2. Định lượng adiponectin huyết thanh có giá trị tiên lượng, dự báo tình trạng kháng insulin, một trong những yếu tố nguy cơ tim mạch ở BN ĐTĐ typ 2. Mục tiêu: 1) Nghiên cứu nồng độ adiponectin huyết thanh ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM và 2) mối liên quan giữa nồng độ adiponectin huyết thanh với các yếu tố nguy cơ ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM. Đối tượng & phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang với 31 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có BCTM và 106 BN ĐTĐ typ 2 chưa có BCTM.. Định lượng nồng độ Adiponectin bằng phương pháp ELISA. Kết quả: Nồng độ adiponectin huyết thanh ở BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM là 5.7 ± 2.1 µg/mL và ở BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu chưa có BCTM là 7,4 ± 2,9 µg/mL. Có mối tương quan nghịch giữa nồng độ adiponectin với nồng độ glucose máu, HbA1C, cholesterol, triglycerid. và tương quan thuận với nồng độ HDL- C. Kết luận: 1)Nồng độ adiponectin ở BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu có BCTM thấp hơn so với BN ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu chưa có BCTM; 2) có mối liên quan chặt chẽ giữa adiponectin với các chỉ số glucose, HbA1C, insulin và Triglycedid, cholesterol huyết thanh ở BN ĐTĐ typ 2 lần đầu có BCTM.

Xem chi tiết

Hướng dẫn sử dụng ICD 10 - Tập 2

Chủ biên: Bộ Y tế

Nhà xuất bản: NXB Y Học

Năm xuất bản: 2015

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Xem chi tiết

Các đặc điểm ống tủy gần ngoài thứ hai của răng cối lớn thứ nhất hàm trên

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Tấn Hưng, Phạm Văn Khoa

Nghiên cứu được triển khai nhằm phát hiện, tạo dạng ống tủy gần ngoài thứ hai (gần ngoài 2) dưới mắt thường, khi dùng kính lúp kèm đèn đội đầu và khi lấy đi ngà về phía chóp dưới kính lúp kèm đèn đội đầu (theo ba giai đoạn) và mô tả vị trí lỗ ống tủy và hướng ống tủy gần ngoài 2. 100 răng cối lớn thứ nhất hàm trên đã nhổ ở người được gắn trên mô hình răng miệng, phát hiện và tạo dạng ống tủy gần ngoài 2 bằng mắt thường hay có kết hợp sử dụng kính lúp và đèn đội đầu, có hay không có lấy đi ngà về phía chóp. Đặt 2 trâm nội nha vào trong 2 ống tủy ở những răng đã tạo dạng ống tủy gần ngoài thứ nhất và ống tủy gần ngoài 2, rồi chụp X quang theo 2 chiều ngoài trong, gần xa để phân loại ống tủy theo Weine (1969) và mô tả hướng ống tủy gần ngoài 2. Lỗ ống tủy gần ngoài 2 nằm trên hay nằm phía gần so đường thẳng nối lỗ ống tủy gần ngoài 1 và lỗ ống tủy trong; cách lỗ ống tủy gần ngoài 1 khoảng 1,85 ± 0,64 mm về phía trong. Nhìn từ phía ngoài có 94% ống tủy gần ngoài 2 nghiêng hay cong lồi về phía gần. Nhìn từ phía gần có 84% ống tủy gần ngoài 2 nghiêng hay cong lồi về phía ngoài.

Xem chi tiết

Nhận xét về thực trạng bướu cổ và thiếu i - ốt qua nghiên cứu ở 2 nhóm xã trước đó đã có sự khác nhau về tỷ lệ trẻ em 7 - 15 tuổi mắc bướu cổ

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Chu Thị Lan, Phạm Ngọc Khái

Nghiên cứu được thực hiện qua điều tra cắt ngang theo phương pháp dịch tễ học mô tả, sau đó nghiên cứu Bệnh - Chứng được tiến hành dựa trên kết quả siêu âm tuyến giáp. Đối tượng nghiên cứu là 3.228 trẻ em 7 - 15 tuổi, trong đó có 1.473 trẻ em ở 2 xã huyện Vũ Thư và 1.755 trẻ em 2 xã huyện Hưng Hà, Thái Bình. Các xã này được chia thành 2 nhóm: Nhóm xã 1 là 2 xã có tỷ lệ bướu cổ (BC) cao, Nhóm xã 2 là 2 xã có tỷ lệ bướu cổ thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy: - Tỷ lệ trẻ em mắc bướu cổ ở nhóm xã 1 là 12,1% còn ở nhóm xã 2 là 7,1%, tỷ lệ bướu cổ tăng lên ở trẻ em nhóm 8 - 12 tuổi và ở nữ cao hơn ở nam. - Ở nhóm xã 1, trẻ em BC thì có hàm lượng iốt niệu thấp hơn trẻ em không BC, đồng thời trẻ em thiếu iốt thì có dung tích tuyến giáp lớn hơn nhóm không thiếu i - ốt. - Ngược lại, ở nhóm xã 2 thì không có sự khác biệt về hàm lượng iốt niệu giữa 2 nhóm trẻ em BC và không BC, không có sự khác nhau về dung tích tuyến giáp giữa nhóm thiếu i - ốt và nhóm không thiếu i - ốt.

Xem chi tiết

Đánh giá chất lượng phôi sau rã đông và tỷ lệ có thai sau chuyển phôi ngày 2 - ngày 3 đông lạnh theo phương pháp thuỷ tinh hoá

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 3

Tác giả: Phan Thị Thanh Lan, Nguyễn Viết Tiến, Vũ Văn Tâm

Nghiên cứu mô tả tiến cứu nhằm xác định tỷ lệ phôi sống sau rã đông, tỷ lệ có thai và diễn biến thai kỳ sau chuyển phôi ngày 2 và ngày 3 đông lạnh theo phương pháp thuỷ tinh hoá. Tại bệnh viện Phụ sản Trung ương (từ tháng 1/2013 đến tháng 1/2015). Kết quả cho thấy, tỷ lệ phôi sống sau rã đông của phôi ngày 2 là 78,9%, phôi ngày 3 là 70,3%. Tỷ lệ có thai của phôi ngày 2 là 22,2%, phôi ngày 3 là 22,8%. Tỷ lệ đẻ con sống của phôi ngày 2 là 17,3%, phôi ngày 3 là 13%. Tỷ lệ phôi sống, tỷ lệ có thai, tỷ lệ đẻ con sống sau rã đông phôi thuỷ tinh hoá, bao gồm cả 3 loại tốt, trung bình, xấu, có nuôi qua đêm, không cao hơn so các nghiên cứu khác (chỉ tiến hành trữ phôi chất lượng tốt, sau khi rã đông nuôi thêm 2 - 3h và tiến hành chuyển phôi ngay mà không tiếp tục nuôi invitro qua đêm). So sánh tỷ lệ có thai, tỷ lệ đẻ con sống sau chuyển phôi thuỷ tinh hoá giữa 2 nhóm phôi ngày 2 - ngày 3 không có sự khác biệt khi trung bình số phôi độ 3 trước đông/chu kỳ chuyển phôi đông lạnh của 2 nhóm là như nhau.

Xem chi tiết

Phẫu thuật cắt 2/3 sau dây thanh qua nội soi trong điều trị liệt cơ mở thanh quản 2 bên

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Lương Thị Minh Hương

Liệt cơ mở thanh quản (TQ) 2 bên làm bệnh nhân khó thở TQ, ngủ ngáy nhưng phát âm bình thường. Mục đích can thiệp nhằm làm cho bệnh nhân hết khó thở, hết ngủ ngáy mà chức năng phát âm vẫn bình thường. Mục tiêu: nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của liệt cơ mở TQ 2 bên và đánh giá kết quả phẫu thuật cắt 2/3 sau dây thanh, có chấm mitomycin C tại chỗ cắt. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả từng trường hợp có can thiệp các bệnh nhân liệt cơ mở thanh quản 2 bên điều trị bệnh viện Tai Mũi Họng Trung ương từ năm 2004 - 2008. Kết quả và kết luận: chủ yếu gặp ở nữ (2/3), triệu chứng quan trọng nhất là khó thở TQ (18/18) và ngủ ngáy to (18/18). Hình ảnh nội soi sụn phễu hai bên không di động đứng yên ở đường giữa (18/18). Kết quả phẫu thuật cắt 2/3 sau dây thanh 1 bên qua nội soi có chấm Mitomycin C: tốt đạt 15/18, trung bình: 1/18, xấu: 2/18. Phẫu thuật này không phức tạp, có thể phổ biến để áp dụng tại TMH tuyến tỉnh nếu có nội soi.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm hoại tử ruột non ở trẻ 2 tháng – 2 tuổi tại bệnh viện nhi Trung ương

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 2

Tác giả: Thái Doãn Công, Phạm Văn Thắng

20 bệnh nhi từ 2 tháng – 2 tuổi được chẩn đoán viêm hoại tử ruột non (VHTRN) tại BV Nhi TW từ 4/1991 – 6/2003 được phân tích về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả cho thấy tuổi mắc bệnh chủ yếu từ 2 – 12 tháng:18 bệnh nhân (90%), tỷ lệ nam/nữ (2,33/1), hầu hết trẻ sống ở nông thôn (85%), 80% trẻ không được bú mẹ, ăn bột sớm (76,59%). Triệu chứng lâm sàng của VHTRN khá phong phú: Hội chứng tắc ruột; Đau bụng, nôn, chướng bụng, ỉa ra máu và viêm phúc mạc (VPM), kèm theo sốc giảm thể tích tuần hoàn với CVP giảm, dấu hiệu mất nước rõ. Xquang bụng có biểu hiện tắc ruột VPM. Dịch màng bụng vàng đục (53,3%), hồng đục (40%), Protein cao 21 ± 10,67g/l. Rivalta (+), tế bào 177 ± 107 BC/mm3. Có tình trạng thiếu máu và Protein máu giảm, cô máu với Hct 43,3 ± 7,12%, toan chuyển hoá mất bù với pH giảm ( 7,16 ± 0,16), BE ( - 15 ± 5).

Xem chi tiết

Nồng độ adiponectin huyết thanh ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 phát hiện lần đầu

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Thị Thu Vân, Trần Khánh Chi, Nguyễn Khoa Diệu Vân, Phạm Thiện Ngọc

Adiponectin là một adipokin được mô mỡ bài tiết và có liên quan đến một số bệnh [7, 8]. Việc xác định sớm nồng độ adiponectin trong huyết thanh có thể giúp phát hiện sớm những trường hợp có nguy cơ tiến triển thành ĐTĐ typ 2, đồng thời giúp theo dõi đáp ứng điều trị, tiên lượng bệnh ĐTĐ typ 2. Mục tiêu: (1) Xác định nồng độ adiponectin huyết thanh ở người bình thường, ở nhóm ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu; (2) Tìm hiểu mối liên quan giữa nồng độ adiponectin với một số yếu tố nguy cơ của bệnh ĐTĐ typ 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu trên 35 người khỏe mạnh đến khám sức khỏe định kỳ, không có rối loạn chuyển hóa glucose và 55 bệnh nhân ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu điều trị ngoại trú tại khoa Nội tiết - ĐTĐ bệnh viện Bạch Mai. Adiponectin huyết thanh được xác định bằng phương pháp ELISA. Kết quả: (1) Nồng độ adiponectin huyết ở nhóm người bình thường là 9,5 ± 2,2 µg/ml và ở nhóm ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu là 6,3 ± 2,5 µg/ml. (2) Tương quan của adiponectin huyết thanh với nồng độ glucose huyết tương lúc đói có r = - 0,44; p < 0,001, với triglyceride huyết thanh có r = - 0,24; p < 0,001, với cholesterol huyết thanh có r = - 0,19; p < 0,001. Kết luận: (1) Nồng độ adiponectin huyết thanh trung bình nhóm ĐTĐ typ 2 phát hiện lần đầu là: thấp hơn có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng. (2) Có mối tương quan nghịch của adiponectin với nồng độ glucose huyết tương lúc đói, triglycerid và cholesterol huyết tương.

Xem chi tiết

Một số nhận xét về tình hình biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường typ 2 điều trị tại khoa nội tiết Bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: Phụ trương Nội khoa

Tác giả: Vũ Bích Nga, Trịnh Kim Giang

Nghiên cưú nhằm xác định tỷ lệ biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường (ĐTĐ) typ 2 điều trị tại khoa Nội tiết Bệnh viện Bạch Mai, tìm hiểu mối liên quan giữa biến chứng thận và một số biểu hiện lâm sàng - cận lâm sàng của bệnh nhân (BN) ĐTĐ typ 2. Kết quả cho thấy tỷ lệ biến chứng thận ở BN ĐTĐ typ 2 điều trị tại khoa nội tiết bệnh viện Bạch Mai là 63,95% (94/147BN); Tỷ lệ xuất hiện biến chứng thận tỷ lệ thuận với tuổi và thời gian phát hiện bệnh ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2. Ở bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có tăng huyết áp thì tỷ lệ biến chứng thận là 70,7 - 95,8% cao hơn so với BN ĐTĐ typ 2 không kèm THA là 51,2%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001. Bệnh nhân ĐTĐ typ 2 có mức kiểm soát đường huyết kém thì tỷ lệ mắc biến chứng thận là 72,7% cao hơn tỷ lệ BC thận ở nhóm BN kiểm soát đường huyết tốt chỉ là 11,8%, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0,001.

Xem chi tiết