So sánh cách xử trí ngôi mông tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương trong hai giai đoạn năm 1994 - 1995 và năm 2004 - 2005

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 2

Tác giả: Ngô Văn Tài, Phạm Phương Hạnh

Nghiên cứu hồi cứu mô tả cắt ngang 1328 sản phụ đẻ ngôi mông tại bệnh viện Phụ Sản Trung Ương nhằm mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ đẻ ngôi mông trong hai giai đoạn 1994 - 1995 và 2004 - 2005. (2). So sánh cách xử trí ngôi mông của hai giai đoạn 1994 – 1995 và 2004 – 2005. Kết quả: Tỷ lệ đẻ ngôi mông giai đoạn 1 là 3,51%; của giai đoạn 2 là 4,05%; sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê. Trọng lượng thai càng cao tỷ lệ mổ đẻ càng cao. Sản phụ có tiền sử mổ đẻ cũ thì tỷ lệ mổ đẻ rất cao. Kết luận: Tỷ lệ đẻ ngôi mông tại bệnh viện Phụ sản Trung Ương ở giai đoạn 1994 –1995 là 3,1%; ở giai đoạn 2004 – 2005 là 4,05%. Các chỉ định mổ lấy thai ở cả hai giai đoạn là như nhau. Các chỉ định mổ đẻ chiếm tỷ lệ cao là mổ cũ, thai to,ối vỡ non, vỡ sớm.

Xem chi tiết

Kết quả điều trị phẫu thuật 205 bệnh nhân ung thư trực tràng tại bệnh viện K từ 1994 - 2000

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Nguyễn Văn Hiếu

Nghiên cứu tiến hành trên 205 bệnh nhân ung thư trực tràng (UTTT), được chia làm 2 nhóm: 127 bệnh nhân UTTT phẫu thuật tại bệnh viện K từ 1998 - 2000, đối chiếu so sánh với 78 ca phẫu thuật UTTT từ 1994 - 1997. Nhóm tuổi 40 - 70 chiếm 83,2%, ỉa máu là triệu chứng hay gặp nhất 198/205 = 96,6%, UTBM tuyến chiếm 89,8%. Giai đoạn Dukes A: 22,0%, Dukes B: 26,3%, Dukes C: 31,7% Dukes D: 16,1%. Sống thêm sau điều trị được tính theo phương pháp Kaplan Meier. Tỷ lệ sống 5 năm sau phẫu thuật của UTTT điều trị tại bệnh viện K từ 1994 - 1997 chung cho mọi giai đoạn: 49,3%. Trong đó giai đoạn Dukes A: 77%; Dukes B: 68,6%; Dukes C: 40%; Dukes D: 0%. Có sự thay đổi về phẫu thuật giữa 2 nhóm tỷ lệ mổ bảo tồn nhóm tiến cứu là 49,6% cao hơn nhóm hồi cứu 41%, trong đó tỷ lệ phẫu thuật lấy u qua đường hậu môn là 7,1% tăng rõ rệt so với nhóm hồi cứu là 1,3%. Kết quả sống 5 năm ở hai nhóm phẫu thuật bảo tồn là 68,8% và phá huỷ cơ tròn là 52,7%, trong khi không có trường hợp nào sống 5 năm ở nhóm phẫu thuật thăm dò và làm hậu môn nhân tạo. Phương pháp phẫu thuật lấy u qua hậu môn bước đầu đã cho kết quả khích lệ.

Xem chi tiết

Utilizations of reproductive health services in two rural areas in Vietnam

Tác giả: Ngo Van Toan

"This thesis describes the utilisation of reproductive health services: family planning, antenatal care and delivery services in Vietnam and analyses socio-economic factors influencing the utilisation of these services. It is based on one cross-sectional survey conducted in the Red River Delta in 1992 and on two surveys performed in 1991 and 1994 in the northern mountainous area. Women in reproductive age were interviewed in their homes on their reproductive history, current use of contraceptive methods, antenatal visits and anti-tetanus vaccination, and delivery care for their last pregnancy as well as on their socio-economic status. Family planning services were relatively frequently used while antenatal care and delivery services were under-utilised both in rural and in mountainous areas. In the Red River Delta, the contraceptive prevalence of women was 70%. The intra-uterine device was the most common method. Thirty per cent of pregnant women had received at least one antenatal check-up and 20% of them had had at least one anti-tetanus vaccination shot. But only 5% of them had had three antenatal check-ups as recommended by the programme. One third were delivered at home. Most women did not adhere to the family planning policy since half of them had more than two children and a shorter spacing between the deliveries than recommended by the policy. In the mountainous area, where a primary health crre programme was running, the contraceptive prevalence increased from 48% in 1991 to 60% in 1994. The antenatal attendance was low and did not change from 1991 to 1994. About two tllirds of the pregnant women had at least one antenatal check-up but only one fifth of them had had three antenatal check-ups. About two thirds were delivered at home, both in 1991 and 1994. Mothers with shorter education were less prone to get antenatal check-ups and deliver in a health institution. The utilisation of services also varied with religion, ethnicity, parity and with poverty indicators like food security and housing conditions. Mothers with more children were more likely to use contraceptives but they were less likely to use antenatal care and delivery services. Mothers with lower education, farmers, and Catholics had ashorter spacing between the first and the second child,and the probability of them getting a third child was higher The results suggest a need for strengthening reproductive health sevices ,especially the antenatal care and delivery servies and encouraging disadvantaged groups of women touse these services"

Xem chi tiết

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM) áp dụng kỹ thuật khâu chỉ rút trong điều trị bệnh Glôcôm

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Cát Vân Anh

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM )kết hợp với kỹ thuật khâu chỉ rút đã phát huy được ưu điểm điều chỉnh nhãn áp tốt hơn ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật và hạn chế được biến chứng xẹp tiền phòng sau mổ glôcôm [9][41]. Schaffer và cộng sự là người đầu tiên đưa ra kỹ thuật khâu chỉ rút vào năm 1971 [8]. Sau đó, năm 1988 Cohen và Osher đã cải tiến và công bố kỹ thuật khâu chỉ rút mở qua đường giác mạc trong phẫu thuật cắt bè [6]. Từ đó có rất nhiều tác giả đề xuất nhiều cải tiến khác nhau nhưng phải đến năm 1994 kỹ thuật này mới được Kolker và Kass hoàn thiện [9]. Hiện nay kỹ thuật này vẫn đang được sử dụng khá phổ biến ở một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam [5].

Xem chi tiết

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM) áp dụng kỹ thuật khâu chỉ rút trong điều trị bệnh Glôcôm

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Cát Vân Anh

Phẫu thuật cắt bè củng giác mạc (CGM )kết hợp với kỹ thuật khâu chỉ rút đã phát huy được ưu điểm điều chỉnh nhãn áp tốt hơn ở giai đoạn sớm sau phẫu thuật và hạn chế được biến chứng xẹp tiền phòng sau mổ glôcôm [9][41]. Schaffer và cộng sự là người đầu tiên đưa ra kỹ thuật khâu chỉ rút vào năm 1971 [8]. Sau đó, năm 1988 Cohen và Osher đã cải tiến và công bố kỹ thuật khâu chỉ rút mở qua đường giác mạc trong phẫu thuật cắt bè [6]. Từ đó có rất nhiều tác giả đề xuất nhiều cải tiến khác nhau nhưng phải đến năm 1994 kỹ thuật này mới được Kolker và Kass hoàn thiện [9]. Hiện nay kỹ thuật này vẫn đang được sử dụng khá phổ biến ở một số nước trên thế giới cũng như ở Việt Nam [5].

Xem chi tiết

Some clinical and paraclinical symptoms of the pediatric diabetic ketoacidosis in children at National Hospital Pediatric

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Ngo Thi Thu Huong, Nguyen Phu Dat

Diabetic ketoacidosis, one of the acute complications of diabetes, occurred often in children. Objectives: Study the clinical and paraclinical symptoms of the pediatric diabetic ketoacidosis. Target patients: All pediatric diabetic ketoacidosis were treated in the national hospital pediatric from 10/1994 to 10/2004. Methods: describable retrospective study. Results: The clinical symptoms of the pediatric diabetic ketoacidosis: Most children had complications before treatment diabetes (55%). Thirst and drinking a lot appeared within 2 weeks before the diabetic ketoacidosis (63.6%). All the patients had consciousness disorder with 50% coma. The rate of weight loss and severe water loss and polyuria were 100%, 55%, 75%. 35% of the children had Kussmaul respirations including 65% deep tachypneic. The paraclinical symptoms of the pediatric diabetic ketoacidosis: Hyperglycemia: 18,32 mmol/l; The average of arterial blood pH: 7,12; The rate of hyponatremia, hyperkalemia were 60%, 40%. Keto-uria (+) is the highest rate: 80%; Glyurie (+++): 65%. Conclusion: Diabetic ketoacidosis is seen frequently in children who were diagnosed the first time. So, it is necessary to diagnose early and to screen the diabetes.

Xem chi tiết

Bệnh Truyền Nhiễm Và Nhiệt Đới

Chủ biên: GS. TSKH. Lê Đăng Hà

Nhà xuất bản: NXB Khoa Học Kĩ Thuật

Lòi nói đầu

Nhờ có các biện pháp phòng bệnh và chương trình tiêm chủng mở rộng của Bộ Y tế, nên ở nước ta có nhiều bệnh truyền nhiễm đã được thanh toán (như bệnh bại liệt) hoặc tỉ lệ mắc bệnh đã giảm hẳn, không gây thành dịch (như bệnh bạch hầu, sởi, ho gà, sốt rét, v.v…).

Xem chi tiết

Bài giảng Giải phẫu học (Tập 1) – Học viện Quân Y

Chủ biên: GS. TS. Lê Thế Trung

Nhà xuất bản: Học Viện Quân Y

Năm xuất bản: 1994

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Cuốn “Bài giảng Giải phẫu học” được biên soạn rất tinh giản theo chương trình học của sinh viên các trường đại học Y ở Việt Nam. Sách được sắp xếp thành hai tập:

– Tập I gồm các chương: Ngực, Bụng, Đầu mặt cổ.
– Tập II gồm các chương: Thân kinh, Tứ chi.

Xem chi tiết