Xác định nồng độ Homocysteine huyết tương trên bệnh nhân có hội chứng sa sút trí tuệ

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Anh Tuấn

51 người không mắc chứng sa sút trí tuệ và 41 bệnh nhân sa sút trí tuệ được xét nghiệm trong nghiên cứu của chúng tôi. Nồng độ homocystein huyết thanh được xác định bởi kỹ thuật miễn dịch hoá phát quang trực tiếp (CMIA). Các xét nghiệm khác được thực hiện theo quy trình chuẩn thông thường. Nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân sa sút trí tuệ là 11,78 ± 4,31µmol/L tăng cao hơn so với nhóm không sa sút trí tuệ (7,34 ± 2,10µmol/L)., có sự khác biệt với p < 0,05. Nồng độ homocystein huyết tương ở bệnh nhân sa sút trí tuệ tương quan với nồng độ glucose huyết với r = 0; p < 0,01. Sự tăng nồng độ homocystein huyết là nguy cơ của sa sút trí tuệ.

Xem chi tiết

Giá trị ngưỡng vòng bụng để chẩn đoán hội chứng chuyển hóa tại thành phố Huế.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Nguyễn Trà My, Trần Thừa Nguyên

Xác định giá trị ngưỡng vòng bụng của người trưởng thành khoẻ mạnh là cực kỳ quan trọng nhằm ngăn chặn, xử trí và tiên đoán béo phì, hội chứng chuyển hoá, đái tháo đường thể 2 và bệnh tim mạch. Mục tiêu của nghiên cứu là thiết lập giá trị ngưỡng vòng bụng để chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa của người dân Huế, Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang, đánh giá giá trị ngưỡng vòng bụng của người dân tại Huế. Kết quả: giá trị ngưỡng vòng bụng để tiên đoán nhiều yếu tố nguy cơ là 89cm ở nam giới và 80cm ở nữ giới. Độ nhạy và độ đặc hiệu khi sử dụng các giá trị ngưỡng này lần lượt là 100% và 90,99% ở nam giới; 96,77% và 64,47% ở nữ giới. Kết luận: trong nghiên cứu này, chúng tôi đề nghị giá trị ngưỡng vòng bụng để chẩn đoán Hội chứng chuyển hóa cho người Huế. Việt Nam là 89cm ở nam và 80cm ở nữ.

Xem chi tiết

Evaluating respiratory and circulatory dysfunctions in head injured patients

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Le Ngoc Quy, Nguyen Hoang Ha, Nguyen Huu Tu

This study was done to evaluate the respiratory and circulatory dysfunctions in traumatic brain injury patients and determine the risk of these dysfunctions to death. Materials and methods: A prospective study was conducted for six months beginning February 2005 in Viet Duc hospital. The blood pressure, respiration rate, odd ratio and Glassgow coma score were measured. Patients were observed up to their discharge from hospital. Results: 28.9% patients had respiratory dysfunction and the mortality was 37.6% with OR = 4.6 (2.4 – 8.9); P < 0.001; 95% confidence interval. We found approximately 10% patients who had circulatory dysfunction (dysfunctions of pulse and systolic blood pressure) and the mortality was 65.5% with OR = 7.8 (4.1 – 15.1) 95% confidence interval; p < 0.001. Conclusions: Respiratory and circulatory dysfunctions were seen frequently (28.9% and about 10%). These dysfunctions can rise up the mortality at least 4 times and 7 times, respectively. These are risk factors of death.

Xem chi tiết

Nghiên cứu xác định các đa hình của Codon 72 trên gen TP53 bằng kỹ thuật PCR-RFLP.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Lê Thanh Nhã Uyên, Hà Thị Minh Thi

Các đa hình của codon 72 trên exon 4 của gen TP53 liên quan đến nguy cơ mắc một số bệnh ung thư ở người. Kỹ thuật PCR - RFLP đã được sử dụng rộng rãi để xác định các đa hình này. Đề tài được thực hiện nhằm các mục tiêu: (1) Hoàn thiện kỹ thuật PCR - RFLP với cặp mồi tự thiết kế để xác định các đa hình của codon 72 trên gen TP53; (2) Xác định tỷ lệ các đa hình của codon 72 trên gen TP53 ở nhóm người tình nguyện. Chúng tôi tiến hành phân tích các mẫu DNA tách chiết từ máu ngoại vi của 60 người tình nguyện gồm 29 nam và 31 nữ bằng kỹ thuật PCR - RFLP trong đó bước PCR được thực hiện với cặp mồi tự thiết kế bằng phần mềm FastPCR, bước RFLP được thực hiện với enzym Bsh1236I. Kết quả: phương pháp PCR – RFLP mà chúng tôi đã hoàn thiện với cặp mồi tự thiết kế đủ tiêu chuẩn để xác định các đa hình của codon 72 trên gen TP53 một cách chính xác; tỷ lệ dị hợp tử Arginine/ Proline chiếm 53,33 %, đồng hợp tử Arginine/ Arginine chiếm 25 %, đồng hợp tử Prolin/ Proline chiếm 21,67 %.

Xem chi tiết

Sử dụng vạt da - cân thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng che phủ tổn thương mất da vùng gót chân.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Đỗ Thành Phương, Nguyễn Tam Thăng

Năm 1992 tác giả Masquelet đã đưa ra “ Vạt da thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng” đã được sử dụng rộng rãi cho đến nay. Tại khoa ngoại chấn thương bệnh viện Quảng Nam chúng tôi đã sử dụng vạt da này với một số cải biến có hiệu quả đựơc thực hiện từ tháng 1 năm 2006 đến tháng 10 năm 2008. Mục tiêu: đánh giá kết quả và khả năng áp dụng vạt da- cân thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng để che phủ tổn thương vùng gót bàn chân. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả tiến cứu từ tháng 1/2006 đến tháng 10/2008, 16 bệnh nhân bị tổn thương mất da vùng gót bàn chân được điều trị phẫu thuật che phủ tổn thương bằng vạt da – cân thần kinh hiển ngoài, thời gian theo dõi 06 tháng. Kết quả: tỷ lệ sống vạt cao (100%), hoại tử một phần 4 trường hợp.Kích thước vạt lớn nhất ( 8 x 14cm), nhỏ nhất (6 x 8cm), chiều dài vạt trung bình 20cm (dài nhất 24cm). Che phủ hết tổn thương mất da vùng gót bàn chân 12 trường hợp. Nhiễm trùng sau mổ 4 trường hợp. Kết luận: sử dụng vạt da thần kinh hiển ngoài có tuần hoàn ngược dòng che phủ những tổn thương mất da vùng gót bàn chân là phương pháp điều trị có nhiều ưu điểm, hiệu quả, ít tốn kém và quan trọng là có thể áp dụng tại cơ sở chúng tôi.

Xem chi tiết

Kết quả điều trị u dây thần kinh số VIII bằng dao Gamma

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trương Văn Trí, Phạm Văn Lình

U dây thần kinh số VIII là một trong những u nội sọ phổ biến nhất. Trước đây, phẫu thuật bóc u là phương pháp điều trị chính đối với bệnh lý này, tuy nhiên những biến chứng sau phẫu thuật vẫn còn là vấn đề lớn. Xạ phẫu thuật bằng dao gamma là một phương pháp điều trị mới được nhiều người lựa chọn, chúng tôi tiến hành đề tài này nhằm đánh giá kết quả điều trị bệnh lý u dây thần kinh số VIII bằng dao gamma tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 33 bệnh nhân bị u dây thần kinh số VIII đã được điều trị bằng dao gamma từ tháng 1.1.2006 đến tháng 31.7.2009 tại Bệnh viện Đại học Y Dược Huế, nam chiếm 42,42% và nữ chiếm 57,58% (nam/nữ: 1:1,36), tuổi từ 20 - 76 tuổi, trung bình 48 ± 14,95 tuổi. Triệu chứng lâm sàng thường gặp là ù tai và giảm thính lực (75,8%), đau đầu (60,6%), chóng mặt (48,5%). Thời gian nằm viện 1 - 3 ngày, 78,8% xuất viện sau điều trị 1ngày. Tất cả bệnh nhân ra viện trong tình trạng sức khỏe ổn định. Sau 10 - 41 tháng theo dõi (trung bình 30,9 ± 8,5 tháng), thính lực cải thiện sau điều trị là 16%, 56% còn duy trì chức năng nghe. Tỷ lệ đau đầu giảm là 52,6%, 75% cải thiện chóng mặt. Tỷ lệ kiểm soát khối u là 91,4% sau 6 tháng, 96,6% sau 1 năm, 95,4% sau 2 năm và 100% sau 3 năm. Kết luận: điều trị u dây VIII bằng dao gamma đạt kết quả tốt.

Xem chi tiết

Kết quả cắt thần kinh giao cảm ngực nội soi với gây mê nội khí quản 1 nòng trong điều trị tăng tiết mồ hôi tay và nách.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Lê Quang Đình, Nguyễn Hoài Nam

Tăng tiết mồ hôi tay và nách là bệnh hay gặp ở người trẻ, gây nhiều phiền toái trong sinh hoạt hằng ngày, nhất là trong giao tiếp. Phẫu thuật nội soi lồng ngực cắt hạch thần kinh giao cảm là phương pháp điều trị hiệu quả cao và dễ thực hiện. Mục tiêu: đánh giá khả năng phẫu thuật nội soi lồng ngực áp dụng gây mê với nội khí quản 1 nòng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: tiến cứu trong thời gian từ tháng 08/2009 đến 11/2009. Kết quả: có 59 trường hợp tăng tiết mồ hôi tay,nách được phẫu thuật, nam/nữ 0,90. Tuổi trung bình 24 ± 3,6; tỷ lệ khô 2 tay là 98%.Có 3 trường hợp phải gỡ dính phổi được đặt dẫn lưu màng phổi dự phòng, 1 trường hợp (2%) phải phẫu thuật lần 2 do 1 tay còn ướt sau mổ. Không có biến chứng nào được ghi nhận. Kết luận: Với gây mê nội khí quản 1 nòng, phẫu thuật nội soi cắt hạch giao cảm ngực 2 hoặc 2,3 trong điều trị tăng tiết mồ hôi tay cho hiệu quả cao, ít tai biến và biến chứng. Tuy nhiên, nên xem xét đặt nội khí quản 2 nòng trong trường hợp cần cắt thêm hạch giao cảm ngực 4 trong điều trị tăng tiết mồ hôi nách hoặc bệnh nhân có nguy cơ dính phổi cao.

Xem chi tiết

Điều tra tình hình sử dụng cây cỏ làm thuốc của người Mường ở xã Mông Hoá, huyện Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Hường, Hoàng Văn Lâm, Phạm Hà Thanh Tùng

Mục tiêu: Lập danh mục cây cỏ làm thuốc theo tiếng địa phương. Tư liệu hoá tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc. Sàng lọc một số bài thuốc chữa bệnh thường gặp trong cộng đồng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: lập danh mục cây cỏ làm thuốc theo tiếng địa phương: Dựa trên phương pháp liệt kê tự do. Tư liệu hoá tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc theo phương pháp phỏng vấn và điều tra tuyến. Sàng lọc một số bài thuốc chữa bệnh thường gặp trong cộng đồng: Theo phương pháp phỏng vấn và nhập cuộc quan sát, thu thập các thông tin về bài thuốc. Kết quả: danh mục cây thuốc được người Mường sử dụng. Tiến hành phỏng vấn 42 NCCTT thu đươc 570 tên cây thuốc, loại được 173 tên đồng nghĩa. Do đó số tên cây thuốc theo tiếng địa phương là 397 tên khác nhau. Tư liệu hóa tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc. Thu được 249 cây thuốc khác nhau theo danh mục, trong đó có 224 loài được giám định sơ bộ đến họ, 208 loài được giám định sơ bộ đến chi và 189 được giám định sơ bộ đến loài. Tư liệu hóa được 160 loài về dạng sống, bộ phận dùng, cách dùng, công dụng. Sàng lọc một số bài thuốc chữa bệnh thường gặp trong cộng đồng. Thu được 16 bài thuốc với những công dụng khác nhau. Trong đó, 6 có bài thuốc được sử dụng khá phổ biến trong công đồng và 10 bài thuốc là tri thức của chuyên gia. Kết luận: đã lập Danh mục 379 tên cây thuốc khác nhau được người Mường sử dụng. Đã thu được 249 loài, trong đó có 224 loài được giám định sơ bộ đến họ, 208 loài được giám định sơ bộ đến chi và 189 được giám định sơ bộ đến loài và đã tư liệu hóa được 160 loài. Thu được 16 bài thuốc với những công dụng khác nhau.

Xem chi tiết

Nghiên cứu thành phần hoá học của của dây khai theo định hướng tác dụng kháng viêm.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Vân Anh, Trần Hùng

Đặt vấn đề và mục tiêu nghiên cứu:: Dây Khai (Coptosapelta tomentosa (Blume) Vahl. ex Heyne var. dongnaiensis (Pit.) Phamh., họ Rubiaceae) là cây thuốc dây tộc của đồng bào Re được sử dụng trị thấp khớp, rửa vết thương phần mềm tránh nhiễm trùng. Những nghiên cứu trước đây cho thấy phân đoạn giàu saponin ở rễ Khai có tác dụng kháng viêm mạnh. Mục tiêu của đề tài là tiếp tục nghiên cứu về tác dụng kháng viêm của dây Khai, phân tách chất tinh khiết từ phân đoạn có tác dụng kháng viêm mạnh để tiếp tục cho những thử nghiệm dược lí tiếp theo. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: là thân và rễ Khai thu hái tạo núi Yanglố (Khánh Hòa). Khảo sát tác dụng kháng viêm sử dụng mô hình gây phù chân chuột bằng chất carrageenin. Cao, phân đoạn cao có hoạt tính kháng viêm mạnh nhất được tiếp tục phân tách bằng các phương pháp phân bố lỏng lỏng, sắc kí cột …. Cấu trúc của chất phân lập được xác định bằng phổ MS và NMR. Kết quả: Cao cồn toàn phần của thân Khai thể hiện hoạt tính kháng viêm liều 8 g/kg. Cao cồn được phân tách thành 5 phân đoạn và các phân đoạn được thử hoạt tính kháng viêm.Từ cao EtOAc thể hiên hoạt tính kháng viêm mạnh đã phân lập được 4 chất là 3-O-β-D- glucopyranosyl sitosterol; 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→3)-α-L-rhamnopyranosyl]-quinovic; 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→4)-α-L-rhamnopyranosyl]-quinovic acid, 3-O-[β-D-glucopyranosyl-(1→3)-α-L-rhamnopyranosyl-] quinovic acid 28- β-D-glucopyranosyl ester. Kết luận và khuyến nghị: trong thử nghiệm hoạt tính kháng viêm, thân Khai thể hiện tác dụng mạnh hơn rễ. Kết quả này mở ra hướng sử dụng thân Khai làm thuốc thay vì chỉ sử dụng rễ theo kinh nghiệm dân gian. Đề tài đã phân 4 hợp chất glycosid từ phân đoạn có tác dụng kháng viêm mạnh nhất của thân Khai. Đây là lần đầu tiên các chất này được phân lập từ dây Khai. Đề tài tạo cơ sở và tiền đề cho việc nghiên cứu ứng dụng dây Khai thành dạng chế phẩm kháng viêm hiệu quả, an toàn trong tương lai.

Xem chi tiết

Mô tả đặc điểm dịch tễ học và các yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs trên nhóm nam bán dâm đồng tính ở Hà Nội.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Nguyễn Hữu Anh, Phạm Thị Mỹ Dung, Văn Đình Hòa, Lê Thị Minh Phương, Trần Thị Hảo Vân, Lê Minh Giang, Đỗ Thị Phương

Nam bán dâm có nhiều nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs tuy nhiên những hiểu biết về nhóm này còn chưa đầy đủ. Mục tiêu: (1) Mô tả đặc điểm dịch tễ học nhóm nam bán dâm đồng tính (NBDĐT) ở Hà Nội; (2) Phân tích một số yếu tố liên quan đến nguy cơ lây nhiễm HIV/STIs. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế nghiên cứu theo nghiên cứu dịch tễ học cắt ngang. Chọn mẫu theo phương pháp chọn mẫu có chủ đích về địa điểm và thời gian, 110 nam giới tuổi từ 15 đến 39 có quan hệ tình dục (QHTD) với nam giới khác và có trao đổi vật chất trong 12 tháng trước điều tra. Kết quả: phần lớn đối tượng tham gia nghiên cứu dưới 25 tuổi (77,3%), ở ngoại tỉnh (79,1%). Về đặc điểm nhân dạng thì 76,4% tự nhận mình là đàn ông và thích QHTD với nữ (73,6%). Trong lần QHTD gần đây, QHTD hậu môn đóng vai trò là người đâm chiếm 16,32% và QHTD hậu môn là người nhận chiếm 7,14%. 34,5% đối tượng cho biết có sử dụng heroin. Tỷ lệ nhiễm HIV/STIs của nhóm NBDĐT trong nghiên cứu này là 26,04%. Phân tích hồi quy logistic cho thấy có 2 yếu tố liên quan đến khả năng nhiễm HIV/STIs là thâm niên bán dâm và sử dụng ma túy. Kết luận: Cần có phương hướng phòng chống HIV/AIDS và các bệnh lây truyền qua đường tình dục phù hợp với đặc điểm xã hội và nguy cơ của nhóm NBDĐT ở các thành phố lớn như Hà Nội.

Xem chi tiết