Thực trạng tử vong tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà N

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Ngọc Hùng

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 (5,2‰) tăng 1,22 lần so với năm 2002 (4,52‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm 0 – 4 tuổi và > 70 tuổi trong cả ba năm đều cao hơn các nhóm khác. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 3,26 – 4,03/103; TNNĐ: 0,53 – 0,58/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,73 – 0,58/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (99,95 đến 160,72 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (86,66 – 149,59 năm/ 103 người).

Xem chi tiết

Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương

Chuyên ngành: Nhi khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Nguyễn Văn Thắng

Tên tác giả: ĐINH THỊ THU PHƯƠNG

Viêm não tủy rải rác c p tính (Acute disseminated encephalomyelitis – ADEM) là m t bệnh não qua trung gian miễn dịch ở trẻ em xu t hiện sau khi nhiễm virut như sởi, quai bị, thuỷ đ u, rubella... nhưng bệnh cũng c th xảy ra sau nhiễm vi khuẩn, ký sinh trùng hay tiêm vacxin hoặc th m chí là tự phát. Bệnh viêm não tủy rải rác c p (VNTRR) là bệnh không phổ biến, với tỷ lệ được ước lượng ở California là 0,4/100.000 dân/ n m ở Canada 0,2/100.000 dân/n m [1].
Bi u hiện lâm sàng và c n lâm sàng của bệnh r t đa ng. Trước kia, các bác sỹ chẩn đoán bệnh chủ yếu dựa vào sự xu t hiện triệu chứng thần kinh và hình ảnh tổn thương ch t trắng đa ổ, t ng tín hiệu trên xung T2W và FLAIR trong phim c ng hưởng từ (CHT), sau khi đ l i trừ các bệnh lý khác. Gần đây, nhóm nghiên cứu bệnh xơ cứng rải rác Nhi khoa Qu c tế (International Pediatric MS Study Group - IPMSG) bao gồm các thầy thu c, chuyên gia thần kinh nhi khoa và chuyên gia thần kinh người lớn v di truy n, dịch tễ, tâm thần kinh đi u ư ng và miễn dịch đ đ xu t các tiêu chuẩn chẩn đ n bệnh VNTRR cho trẻ ưới 10 tuổi [2]. Mặc dù v y, trong thực tế lâm sàng đôi khi bệnh VNTRR tái phát cũng r t khó phân biệt với bệnh xơ cứng rải rác (multiple sclerosis: XCRR) [1]. Hiện nay, đi u trị bệnh VNTRR dựa trên cơ chế bệnh sinh của bệnh tương tự như bệnh XCRR, chủ yếu là sử dụng Steroid và ti m tĩnh m ch globulin miễn dịch. a s bệnh nhân mắc bệnh VNTRR hồi phục hoàn toàn, m t s trường hợp hồi phục nhưng còn tồn t i di chứng và có tới 5% bệnh nhân tử vong [3].
T i khoa Thần kinh, Bệnh viện hi Trung Ương đ chẩn đ n đi u trị cứu s ng và h n chế nhi u di chứng thần kinh cho trẻ bị bệnh VNTRR từ
2
nhi u n m nay. Tuy nhi n đến nay t i Việt Nam gần như chưa c nghi n cứu nào v đặc đi m lâm sàng và xét nghiệm cũng như đ nh gi kết quả đi u trị bệnh này ở trẻ em ngoài m t báo cáo v 6 trường hợp bệnh nhi n m 2013 của ỗ Thị Thanh ương [4]. Vì v y, tôi thực hiện đ tài với mong mu n hi u rõ hơn v đặc đi m lâm sàng, tổn thương n h ặc tủy trên hình ảnh c ng hưởng từ, chẩn đ n x c định bệnh, giải ph p đi u trị hợp lý, kết quả và ti n lượng bệnh tr n hướng d n đi u trị bệnh của y v n thế giới. Nghiên cứu được thực hiện với t n đ tài là: “Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy và kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính tại Bệnh viện nhi Trung ương”.
Nghiên cứu được đưa ra với hai mục tiêu:
1. Mô tả đặc điểm lâm sàng, hình ảnh chụp cộng hưởng từ não tủy bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.
2. Nhận xét kết quả điều trị bệnh viêm não tủy rải rác cấp tính.

Xem chi tiết

Lý Thuyết Thiết Bị Hình Ảnh Y Tế – Tập 1: Máy X Quang

Chủ biên: KS. Trần Văn Sơn

Nhà xuất bản: Bộ Y Tế, NXB Giáo Dục

Giới thiệu

Sách Lý thuyết thiết bị hình ảnh y tế (tập 1) được biên soạn dựa vào chương trình giáo dục nghề của Bộ Y tế và trên cơ sở chương trình khung đã được phê duyệt. Sách được các tác giả KS. Trần Văn Sơn (chủ biên), PGS. TS. Hoàng Đức Kiệt, TS. Trịnh Đình Chiến, KS. Đoàn Nhật Ánh, KS. Nguyễn Gia Quân biên soạn theo phương châm: kiến thức cơ bản, hệ thống; nội dung chính xác, khoa học; cập nhật các tiến bộ khoa học, kỹ thuật hiện đại và thực tiễn Việt Nam. Sách được cấu trúc gồm 7 bài. Tài liệu là tiền để để các giáo viên và học sinh các trường có thể áp dụng phương pháp dạy – học tích cực.

Xem chi tiết

Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Chuyên ngành: Hồi sức cấp cứu

Tên hướng dẫn: PGS.TS. NGUYỄN ĐẠT ANH

Tên tác giả: PHẠM THỊ TRÀ GIANG

Theo WHO, bệnh phổi t c ngh n mạn tính (COPD) là m t vấn đề mang tính toàn cầu với số lượng khoảng 65 triệu người m c COPD mức đ trung bình đến n ng và hơn 3 triệu người chết vì COPD 2005 tương ứng với 5% tử vong do mọi nguyên nhân. Trong đ khoảng 90% tử vong do COPD các nước thu nhập trung bình và thấp. COPD là nguyên nhân gây tử vong hàng thứ 5 vào 2002 hàng thứ 3 trong thập kỉ qua chỉ sau bệnh thiếu máu cơ tim đ t quỵ. Theo dự đoán tử vong do COPD c thể tăng lên 30% trong 10 năm tới nếu không c nh ng hành đ ng khẩn cấp loại trừ các yếu tố nguy cơ đ c biệt là thuốc lá [1].
Ở bệnh nhân nhập viện vì đợt cấp COPD thường giai đoạn III và IV thông khí nhân tạo không xâm nhập (TKNTKXN) được sử dụng để cải thiện triệu chứng lâm sàng tình trạng toan hô hấp [2]. Phương thức TKNTKXN lần đầu được Meduri áp dụng vào năm 1987 cho 11 bệnh nhân đợt cấp COPD và ngày càng phổ biến r ng rãi nhờ ưu thế giảm t lệ viêm phổi liên quan đến th máy tránh tai biến do đ t NKQ và m khí quản (MKQ) giảm số ngày nằm viện và chi phí điều trị [3],[4].
M c d phương pháp này c nhiều ưu điểm nhưng vẫn c bệnh nhân(BN) thất bại TKNTKXN với tỉ lệ từ 17,9% đến 52,4% [5]. Nếu không phát hiện kịp thời các trường hợp thất bại TKNTKXN c thể làm chậm việc đ t NKQ và gây nguy hiểm cho BN kéo dài thời gian nằm viện tăng t lệ nhiễm tr ng bệnh viện. Theo nghiên cứu của Morreti và c ng sự tử vong trong nh m thất bại mu n so với thất bại sớm là 92% so với 53% [6]. Do đ việc tiên lượng nguy cơ thất bại của TKNTKXN cực kì quan trọng để quyết định thời điểm chuyển sang đ t NKQ ho c TKNTXN.
2
Đã c nhiều nghiên cứu trên thế giới về yếu tố tiên lượng kết quả TKNTKXN. Tuy nhiên trong điều kiện thực tế kết quả thành công hay thất bại của TKNTKXN còn phụ thu c vào điều kiện của khoa phòng như trang thiết bị kinh nghiệm của đ i ngũ nhân viên y tế khả năng theo d i BN thời gian từ khi kh i phát đợt cấp cho đến khi nhập viện. Ở Việt Nam đã c 1 số nghiên cứu bước đầu tìm hiểu về yếu tố tiên lượng thành công của TKNTKXN tuy nhiên các nghiên cứu trước đều dựa trên phân tích hồi quy đơn biến và chưa khảo sát đầy đủ các yếu tố tiên lượng. Vì thế ch ng tôi tiến hành đề tài: “Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập trong đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính” nhằm 2 mục tiêu:
1. Mô tả các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính được thông khí nhân tạo không xâm nhập.
2. Đánh giá các yếu tố tiên lượng thất bại của thông khí nhân tạo không xâm nhập ở bệnh nhân suy hô hấp cấp do đợt cấp bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính.

Xem chi tiết

Bài giảng Bệnh học Nội khoa – ĐH Y Hà Nội (tập 1)

Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Thị Minh An

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2004

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu
Bài giảng bệnh học nội khoa do cán bộ giảng dạy các bộ môn Nội thuộc Trường Đại học Y Hà Nội biên soạn nhằm cung cấp một số tài liệu để sinh viên các lớp Y3-Y6 theo chương trình cải cách mới có thể dùng tham khảo khi học lí thuyết cũng như khi thực hành ở bệnh viện.
Tập I gồm các chương:
– Hô hấp (TS.BS. Chu Vǎn Ý)
– Thận – Tiết niệu (GS. TS. Nguyễn Vǎn Xang)
– Bệnh về máu (PGS. TS. Nguyễn Thị Minh An)
– Nội tiết (PGS.TS. Trần Đức Thọ)
Tập II gồm các chương:
– Tim mạch (GS. Phạm Khuê – GS. Phạm Gia Khải – TS. PGS. Nguyễn Lân Việt)
– Tiêu hoá (GS. TS. Nguyễn Khánh Trạch – PGS. Phạm Thị Thu Hồ)
– Bộ máy vận động (PGS. TS. Trần Ngọc Ân)
– Đại cương bệnh học người có tuổi (GS. Phạm Khuê)

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm hoại tử ruột non ở trẻ 2 tháng – 2 tuổi tại bệnh viện nhi Trung ương

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 2

Tác giả: Thái Doãn Công, Phạm Văn Thắng

20 bệnh nhi từ 2 tháng – 2 tuổi được chẩn đoán viêm hoại tử ruột non (VHTRN) tại BV Nhi TW từ 4/1991 – 6/2003 được phân tích về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả cho thấy tuổi mắc bệnh chủ yếu từ 2 – 12 tháng:18 bệnh nhân (90%), tỷ lệ nam/nữ (2,33/1), hầu hết trẻ sống ở nông thôn (85%), 80% trẻ không được bú mẹ, ăn bột sớm (76,59%). Triệu chứng lâm sàng của VHTRN khá phong phú: Hội chứng tắc ruột; Đau bụng, nôn, chướng bụng, ỉa ra máu và viêm phúc mạc (VPM), kèm theo sốc giảm thể tích tuần hoàn với CVP giảm, dấu hiệu mất nước rõ. Xquang bụng có biểu hiện tắc ruột VPM. Dịch màng bụng vàng đục (53,3%), hồng đục (40%), Protein cao 21 ± 10,67g/l. Rivalta (+), tế bào 177 ± 107 BC/mm3. Có tình trạng thiếu máu và Protein máu giảm, cô máu với Hct 43,3 ± 7,12%, toan chuyển hoá mất bù với pH giảm ( 7,16 ± 0,16), BE ( - 15 ± 5).

Xem chi tiết

NGHIÊN CỨU CHẨN ĐOÁN TRƯỚC SINH HỘI CHỨNG TURNER

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Quỳnh Thơ, Hoàng Thu Lan, Hoàng Thị Ngọc Lan, Trần Thị Thanh Hương, Phan Thị Hoan, Trần Danh Cường

Áp dụng phương pháp phân tích nhiễm sắc thể (NST) và phương pháp lai tại chỗ huỳnh quang (FISH) để chẩn đoán hội chứng Turner (TS) từ tế bào ối. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 30 thai phụ tuổi thai 14 – 22 tuần có nguy cơ cao sinh con TS dựa trên kết quả sàng lọc của siêu âm và triple test được chọc hút 15 ml dịch ối để thực hiện FISH trên nhân tế bào gian kỳ và phân tích NST ở kỳ giữa. Kết quả: kết quả FISH phù hợp với kết quả phân tích NST: - 12/30 mẫu có kết quả hội chứng Turner - 5/30 mẫu có kết quả nữ bình thường - 4/30 mẫu có kết quả hội chứng Down - 4/30 mẫu có kết quả nam bình thường - 5/30 mẫu có kết quả hội chứng Edward. * 11/12 thai TS trên siêu âm có nang bạch huyết (NBH), kích thước nang lớn (trung bình 20,45mm), 9/11 NBH có vách ngăn. * 12/12 thai TS đều có ít nhất 1 chỉ số vượt ngưỡng sàng lọc AFP ≤ 0,7 MoM, HCG ≥ 2 MoM, uE3 ≤ 0,7 MoM. Kết luận: kết quả phân tích NST băng G và FISH đều là tiêu chuẩn để chẩn đoán xác định thai TS. Phương pháp FISH không qua thời gian nuôi cấy cho kết quả nhanh sau 48 - 72h.

Xem chi tiết

Tỷ lệ sót sỏi và sử dụng x quang với cánh tay C - ARM để hạn chế sót sỏi trong phẫu thuật sỏi san hô và nhiều viên

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 3

Tác giả: Trịnh Thanh Hùng, Nguyễn Đức Hải, Trần Văn Hinh

Mục tiêu: đánh giá tỷ lệ sót sỏi trong phẫu thuật sỏi san hô và nhiều viên, so sánh tỷ lệ sót sỏi khi có dùng Xquang với cánh tay C - arm kiểm tra và không dùng X quang kiểm tra. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: phẫu thuật lấy sỏi cho 68 bệnh nhân (BN) sỏi thận san hô và nhiều viên tại khoa tiết niệu bệnh viện 103, từ tháng 10/ 2008 đến tháng 07/2009 chia 2 nhóm. Nhóm 1: sử dụng C - arm kiểm tra sỏi sót trong phẫu thuật (33BN); nhóm 2: không sử dụng C - arm kiểm tra sót sỏi trong phẫu thuật (35BN). Kết quả và bàn luận: tần suất sót sỏi chung là 20/68 bệnh nhân chiếm tỷ lệ 29,41%. Dùng C - arm đã giảm tỷ lệ sót sỏi từ 15/35 BN (nhóm 2 - 42,85% ) xuống còn 5/33 BN (nhóm 1 - 15,16%), Nhóm dùng C - arm, phát hiện sỏi sót 11/33 BN (33,33%), trong đó lấy sạch 7 bệnh nhân, 4 BN không lấy được vì sỏi khó nằm giam trong đài thận. C - arm không phát hiện sỏi sót 1/12 (8,33%), do kích thước sỏi nhỏ, mật độ cản quang kém. Tỷ lệ kiểm tra và lấy sạch sỏi 28/33 BN (84,84%). Kết luận: tỷ lệ sót sỏi của nhóm dùng C arm kiểm tra thấp hơn nhóm 2 không dùng C - arm.

Xem chi tiết