Bài giảng Bệnh học Nội khoa – ĐH Y Hà Nội (tập 1)

Chủ biên: PGS. TS. Nguyễn Thị Minh An

Nhà xuất bản: ĐH Y Hà Nội, NXB Y Học

Năm xuất bản: 2004

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu
Bài giảng bệnh học nội khoa do cán bộ giảng dạy các bộ môn Nội thuộc Trường Đại học Y Hà Nội biên soạn nhằm cung cấp một số tài liệu để sinh viên các lớp Y3-Y6 theo chương trình cải cách mới có thể dùng tham khảo khi học lí thuyết cũng như khi thực hành ở bệnh viện.
Tập I gồm các chương:
– Hô hấp (TS.BS. Chu Vǎn Ý)
– Thận – Tiết niệu (GS. TS. Nguyễn Vǎn Xang)
– Bệnh về máu (PGS. TS. Nguyễn Thị Minh An)
– Nội tiết (PGS.TS. Trần Đức Thọ)
Tập II gồm các chương:
– Tim mạch (GS. Phạm Khuê – GS. Phạm Gia Khải – TS. PGS. Nguyễn Lân Việt)
– Tiêu hoá (GS. TS. Nguyễn Khánh Trạch – PGS. Phạm Thị Thu Hồ)
– Bộ máy vận động (PGS. TS. Trần Ngọc Ân)
– Đại cương bệnh học người có tuổi (GS. Phạm Khuê)

Xem chi tiết

Thực trạng tử vong tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà N

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Ngọc Hùng

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 (5,2‰) tăng 1,22 lần so với năm 2002 (4,52‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm 0 – 4 tuổi và > 70 tuổi trong cả ba năm đều cao hơn các nhóm khác. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 3,26 – 4,03/103; TNNĐ: 0,53 – 0,58/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,73 – 0,58/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (99,95 đến 160,72 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (86,66 – 149,59 năm/ 103 người).

Xem chi tiết

Theo dõi dọc một năm bệnh sâu răng ở học sinh 12 tuổi tại trường THCS An Lạc, TP Hồ Chí Minh.

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 15.1

Tác giả: Trần Thị Bích Vân, Hoàng Tử Hùng

Nghiên cứu thuộc dự án nghiên cứu về “các yếu tố nguy cơ sâu răng, liên kết những bằng chứng cá nhân và cộng đồng” của Khoa RHM, ĐHYD TP.HCM. Mục tiêu: xác định những yếu tố thật sự làm trẻ có nguy cơ cao tăng sâu răng sau một năm để từ đó xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng trong tương lai của học sinh 12 tuổi trường THCS An Lạc quận Bình Tân, Tp. Hồ Chí Minh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mẫu nghiên cứu gồm 149 học sinh 12 tuổi được khám sâu răng theo chỉ số ICDAS và thu thập các yếu tố nguy cơ lần 1 (tháng 3/2006) và được tái đánh giá tình trạng sâu răng sau 1 năm (tháng 3/2007). Các yếu tố nguy cơ được sử dụng để phân tích mối liên quan với sự thay đổi tình trạng sâu răng sau 1 năm gồm có: độ nhớt nước bọt, pH nước bọt không kích thích, lưu lượng nước bọt kích thích, khả năng đệm của nước bọt, số lượng Streptococcus mutans, số lượng Lactobacilli, pH mảng bám, tình trạng vệ sinh răng miệng, trình độ học vấn của cha, trình độ học vấn của mẹ, mức thu nhập gia đình, chế độ ăn có đường và axít giữa các bữa ăn chính, số lần chải răng, sang thương sâu răng mới chớm (đốm trắng/ nâu), có sâu răng đến ngà ban đầu. Kết quả: tình trạng sâu răng được đánh giá ở 2 ngưỡng chẩn đoán khác nhau: ở mức độ S3 (sâu từ ngà) tỷ lệ % sâu răng là 67,1% và số trung bình S3MT MR là 4,29, ở mức độ S1 (sâu men và ngà) tỷ lệ % sâu răng là 99,3% và số trung bình S1MT-MR là 13,12. Về sự gia tăng sâu răng sau 1 năm, ở mức S1, sau 1 năm có 81,2% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 4,6 mặt răng sâu mới; ở mức S3 có 49% học sinh có thêm tối thiểu một mặt răng bị sâu và tăng trung bình 1,09 mặt răng sâu mới. Khi phân tích mối liên quan giữa từng yếu tố với sự phân bố tỷ lệ % trẻ không tăng sâu răng (DS3MT - MR = 0) và tăng sâu răng cao (DS3MT-MR ≥ 2) kết quả cho thấy có 5 yếu tố liên quan có ý nghĩa: pH nước bọt không kích thích, yếu tố khả năng đệm của nước bọt, yếu tố pH mảng bám, yếu tố VSRM và yếu tố có sang thương sâu đến ngà ban đầu. Khi phân tích hồi quy đa yếu tố, chỉ có hai yếu tố là yếu tố “Khả năng đệm của nước bọt không tốt” (p = 0,023) và yếu tố “Có sang thương sâu đến ngà ban đầu” (p < 0,001) là 2 yếu tố nguy cơ thực sự làm trẻ có nguy cơ tăng tối thiểu 2 mặt răng sâu sau một năm. Xây dựng mô thức tiên đoán sâu răng bao gồm 2 yếu tố: khả năng đệm của nước bọt không tốt và có sang thương sâu đến ngà ban đầu đạt được khả năng tiên đoán sâu răng rất cao với độ nhạy là 100%, độ chuyên 95,5%, PV(+) là 86,7% và PV(-) là 100%. Kết luận: nghiên cứu đã xây dựng được 1 mô thức tiên đoán sâu răng có giá trị tiên đoán sâu răng cao. Khuyến nghị: cần đánh giá cả sang thương sâu răng sớm để tránh ước lượng dưới tình trạng sâu răng. Chiến lược dự phòng sâu răng nên tập trung vào nhóm có nguy cơ sâu răng cao cụ thể là nhóm trẻ đang có sang thương sâu ngà trong miệng.

Xem chi tiết

Phân tích chi phí của tai N¹N thương tích tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì, Hà Tây

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Hoàng Minh Hằng, Dương Thuý Anh

Mục tiêu: Mô tả và phân tích chi phí của những trường hợp tai nạn thương tích (TNTT) được điều trị tại các cơ sở y tế công ở Ba Vì trong năm 2002. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Tất cả các trường hợp TNTT được chữa trị tại các cơ sở y tế công từ 01/01/2002 đến 31/12/2002. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi do các bác sĩ trực tiếp phỏng vấn bệnh nhân ngay khi họ ra viện và phân tích bằng phần mềm Stata 8.0. Kết quả: Tổng chi phí của các bệnh nhân TNTT năm 2002 là 498000314 đồng. Chi phí trực tiếp chiếm 78%, chi phí gián tiếp chiếm 22%. Chi phí bình quân cho một trường hợp TNTT là 207.000 đồng, tương đương với thu nhập trung bình 1 tháng của dân huyện Ba vì tại thời điểm nghiên cứu để chi trả cho chi phí này. Kết luận: Thương tích đã gây ra một gánh nặng về kinh tế cho người bị TNTT.

Xem chi tiết

Vai trò của Troponin T siêu nhạy trong dự báo kết quả sớm sau sửa toàn bộ tứ chứng fallot

Năm xuất bản: 2016

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Mai Hùng, Nguyễn Quang Tuấn, Nguyễn Hữu Tú

Phát hiện sớm tổn thương cơ tim trong phẫu thuật tim với tuần hoàn ngoài cơ thể là thách thức đối với bác sĩ gây mê hồi sức. Troponin T siêu nhạy (hs - TnT) là dấu ấn sinh học phát hiện sớm tổn thương cơ tim. Nghiên cứu thực hiện trên 31 trẻ em được sửa toàn bộ tứ chứng Fallot, nhằm khảo sát sự biến đổi sớm nồng độ hs - TnT và đánh giá tương quan giữa nồng độ hs - TnT với kết quả sớm sau mổ. Kết quả nồng độ trung bình hs- TnT trước mổ (T0) là 14,5 ng/L, thời điểm T1 sau mổ là 4544,6 ng/L tăng cao so với trước mổ (p < 0,01). Nồng độ trung bình hs - TnT ngay sau mổ tương quan với thời gian thở máy, thời gian nằm điều trị hồi sức, hs - TnT tăng mỗi 100 ng/L thì thời gian thở máy tăng 0,02 giờ và thời gian nằm điều trị tại hồi sức tăng 0,01 ngày. Nồng độ hs - TnT sau phẫu thuật là một chỉ điểm sớm mức độ tổn thương cơ tim và có giá trị tiên lượng kết quả sớm sau phẫu thuật sửa toàn bộ tứ chứng Fallot.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng bệnh viêm hoại tử ruột non ở trẻ 2 tháng – 2 tuổi tại bệnh viện nhi Trung ương

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 2

Tác giả: Thái Doãn Công, Phạm Văn Thắng

20 bệnh nhi từ 2 tháng – 2 tuổi được chẩn đoán viêm hoại tử ruột non (VHTRN) tại BV Nhi TW từ 4/1991 – 6/2003 được phân tích về đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng. Kết quả cho thấy tuổi mắc bệnh chủ yếu từ 2 – 12 tháng:18 bệnh nhân (90%), tỷ lệ nam/nữ (2,33/1), hầu hết trẻ sống ở nông thôn (85%), 80% trẻ không được bú mẹ, ăn bột sớm (76,59%). Triệu chứng lâm sàng của VHTRN khá phong phú: Hội chứng tắc ruột; Đau bụng, nôn, chướng bụng, ỉa ra máu và viêm phúc mạc (VPM), kèm theo sốc giảm thể tích tuần hoàn với CVP giảm, dấu hiệu mất nước rõ. Xquang bụng có biểu hiện tắc ruột VPM. Dịch màng bụng vàng đục (53,3%), hồng đục (40%), Protein cao 21 ± 10,67g/l. Rivalta (+), tế bào 177 ± 107 BC/mm3. Có tình trạng thiếu máu và Protein máu giảm, cô máu với Hct 43,3 ± 7,12%, toan chuyển hoá mất bù với pH giảm ( 7,16 ± 0,16), BE ( - 15 ± 5).

Xem chi tiết

Fingolimod tác động lên sự phân bố và biệt hóa tế bào lympho T và B điều hòa

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Hữu Doanh, Trần Hậu Khang

Spingosine-1-phosphate là lysophospholipid hoạt hóa có chức năng quan trọng trong hệ thống miễn dịch, viêm và mạch máu. Fingolimod là một chất điều hòa miễn dịch, khi vào trong cơ thể sẽ thành dạng Fingolimod-phosphate, dạng cạnh tranh với S1P gắn lên receptor S1P. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của Fingolimod trên quá trình phân bố tế bào T, B trong máu và sự biệt hóa tế bào T và B điều hòa. Sử dụng chuột thực nghiệm, cho thấy Fingolimod ức chế sự di chuyển của tế bào lympho từ các cơ quan lympho và do vậy làm giảm các tế bào lympho sau 3 ngày, gây thiếu tế bào T và B sau 7 ngày điều trị bằng Fingolimod. Fingolimod tác động lên tế bào T hơn tế bào B. Hơn nữa, Fingolimod gây tăng biệt hóa tế bào T điều hòa (CD4+CD25+FoxP3+) và B điều hòa (IL-10+CD19+) in vivo và in vitro. Những kết quả này giúp chứng minh khả năng sử dụng Fingolimod để giảm luân chuyển tế bào T hoạt hóa và gia tăng tế bào điều hòa để ức chế các bệnh lý viêm và tự miễn.

Xem chi tiết