Ảnh hưởng của bệnh tật đến sự tăng trưởng cân nặng và chiều cao của trẻ từ 0 đến 5 tuổi

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Thị Yến, Lê Nam Trà, Hàn Nguyệt Kim Chi

Nghiên cứu ảnh hưởng của bệnh tật với sự phát triển cân nặng và chiều cao trên 99 trẻ, 60 trẻ nông thôn và 39 trẻ thành phố từ 1/ 6/ 1998 đến 30/ 9 / 2003 theo phương pháp dọc chúng tôi rút ra một số nhận xét sau: 1. Trong năm đầu, tần suất và số ngày mắc bệnh trung bình trong năm caonhất. Từ năm thứ 2 trở đi, tần suất và thời gian mắc bệnh có xu hướng giảm dần. Tần suất và thời gian mắc bệnh ở nhóm NT cao hơn nhóm TP trong cả 5 năm. 2. Có mối tương quan tuyến tính nghịch giữa tần suất và thời gian mắc bệnh trung bình trong năm với cân nặng và chiều cao của trẻ, tuy nhiên mối tương quan này là chưa chặt chẽ. 3. Tần suất mắc bệnh và số ngày mắc bệnh trung bình trong năm có xu hướng giảm dần theo tuổi ở cả 2 nhóm SDD và không SDD. Tần suất mắc bệnh và số ngày mắc bệnh trung bình trong năm ở nhóm SDD cao hơn rõ rệt so với nhóm trẻ bình thường ở cả 5 năm.

Xem chi tiết

Nuôi cấy và phân tích nhiễm sắc thể của tế bào tua rau

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Hoàng Thị Ngọc Lan, Nguyễn Thị Duyên

Mục tiêu: (1) Hoàn chỉnh được kỹ thuật nuôi cấy tế bào tua rau thai. (2). Phân tích nhiễm sắc thể (NST) từ các mẫu tế bào tua rau thai qua nuôi cấy. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả, bằng phương pháp cấy hở với 5%CO2, mô rau thai được cắt mảnh, môi trường nuôi cấy AmninoMax, nhuộm tiêu bản theo phương pháp nhuộm giemsa thông thường và băng G. Phân tích NST theo tiêu chuẩn ISCN 2005 trên 30 mẫu tua rau từ tuần thai 5 0 16 tuần. Kết quả: Đã nuôi cấy thành công các mẫu tua rau ở thai từ 5 0 16 tuần được tiến hành tại Bộ môn Y sinh học – Di truyền Đại Học Y Hà Nội với thời gian nuôi cấy phổ biến từ 7 0 10 ngày, phân tích NST của thai đã phát hiện 10/30 mẫu có karyotype bất thường (9/30 có bất thường số lượng NST, 1/30 có bất thường cấu tróc NST (chuyển đoạn giữa NST 3 và NST 18; der (3;18)). Kết luận: Đã nuôi cấy thành công các mẫu tế bào tua rau, phân tích NST 30 mẫu tua rau nuôi cấy đã phát hiện 10/30 có bất karyotyp bất thường (9/30 có bất thường số lượng NST, 1/30 có bất thường cấu trúc NST der (3;18)).

Xem chi tiết

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI XƠ HÓA CƠ DELTA TẠI VIỆT NAM NĂM 2006 - 2007

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 5

Tác giả: Phạm Nhật An, Lê Thị Thanh Xuân, Vũ Thị Vựng, Trần Thanh Tú và cộng sự

Nghiên cứu được tiến hành tại 8 tỉnh Hà Nội, Hà Tây, Thanh Hoá, Lạng Sơn, Hà Tĩnh, Đà Nẵng, Tiền Giang và Cần Thơ nhằm mục tiêu: mô tả các yếu tố ảnh hưởng đến bệnh xơ hoá cơ Delta tại Việt Nam năm 2006 - 2007. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang thăm khám lâm sàng 29696 người dân tuổi từ 1 - 60 theo mẫu khám lâm sàng và phỏng vấn trực tiếp theo bộ câu hỏi. Kết quả: phân tích đa biến cho thấy có mối liên quan giữa bệnh xơ hóa cơ delta với một số yếu tố sau: có tiêm kháng sinh vào vùng cơ delta khi trẻ ở độ tuổi 0–5 tuổi OR = 2,93 (CI95%: 1,43–5,8); loại kháng sinh streptomycin được tiêm ở giai đoạn 0 – 5 tuổi tại vị trí cơ delta và vùng tay OR = 45,2 (CI95%: 13,1 – 167); cơ địa có sẹo lồi OR = 73,4 (CI95%: 46,1 – 116,9). Không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về số lần tiêm kháng sinh cũng như tiêm vắc xin (vị trí, đường tiêm) với bệnh xơ hóa cơ Delta. Kết luận: Các yếu tố ảnh hưởng tới xơ hóa cơ Delta ở trẻ em là có tiêm kháng sinh vào vùng cơ delta khi trẻ có độ tuổi 0–5 tuổi hoặc 6-10 tuổi, loại kháng sinh streptomycin được tiêm ở giai đoạn 0 – 5 tuổi; cơ địa có sẹo lồi. Chưa tìm thấy mối liên quan giữa bệnh xơ hóa cơ Delta với tiêm vắc xin (vị trí, đường tiêm).

Xem chi tiết

Giá trị tiên lượng tử vong theo thang điểm CRIB ở trẻ đẻ non

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Phạm Thị Xuân Tú, Vũ Vân Yến, Nguyễn Thị Quỳnh Hương

Tỷ lệ tử vong ở trẻ đẻ non chiếm tỷ lệ cao (38%), để giúp hạ thấp tỷ lệ tử vong và tiện phân bổ nhân lực làm việc trong điều kiện quá tải về nhân lực và trang thiết bị, thang điểm CRIB đã ra đời. Đề tài này được thực hiện nhằm đánh giá giá trị tiên lượng tử vong theo thang điểm CRIB ở 667 trẻ sơ sinh đẻ non nhập viện tại khoa sơ sinh bệnh viện Nhi Trung ương từ 1/3/2008 đến 31/07/2008. Kết quả nghiên cứu cho thấy nhóm trẻ có điểm số CRIB > 4 có nguy cơ tử vong cao gấp 13 lần so với nhóm có điểm số CRIB < 4 (RR = 13,3; p < 0,001). Tử vong thực tế cao hơn tử vong tiên lượng ở điểm CRIB 12 từ 4 - 10. Nhóm trẻ có điểm số CRIB > 11 có nguy cơ tử vong cao gấp 96 lần so với nhóm trẻ có điểm số CRIB 0 - 5 (RR = 96,06, p < 0,001). Ở nhóm trẻ có cân nặng < 1500g và/hoặc tuổi thai < 31 tuần, điểm số CRIB từ 0 - 5 có nguy cơ tử vong gấp 4 lần nhóm trẻ có cân nặng > 1500g và/hoặc tuổi thai > 31 tuần (RR = 4,2; p < 0,001). Tóm lại, điểm số CRIB > 4 có khả năng phân tách tốt giữa nhóm sống và nhóm tử vong. Nhóm trẻ đẻ non có điểm số CRIB > 11 có nguy cơ tử vong rất cao. Điểm số CRIB từ 0 - 5 có nguy cơ tử vong cao hơn ở nhóm trẻ có cân nặng < 1500g và/ hoặc tuổi thai < 31 tuần.

Xem chi tiết

Kết quả 2196 trường hợp nội soi ống tiêu hoá trên tại bệnh viện 199 - bộ công an

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Hoàng Phương Thủy

Bệnh lý đường tiêu hóa trên gồm nhiều nhóm, với những triệu chứng gần giống nhau, Bác sỹ lâm sàng cần phân biệt các hình thái tổn thương để có phương pháp điều trị. Nội soi là một phương pháp thăm dò hình thái rất quan trọng trong chuyên khoa tiêu hoá. Mục tiêu: (1) Để đánh giá hình thái tổn thương, tình trạng bệnh lý đường tiêu hoá trên qua hình ảnh nội soi. (2) Khảo sát mối liên quan giữa tuổi, giới tính với tình trạng bệnh lý đường tiêu hóa. Đối tượng phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu theo phương pháp nghiên cứu hồi cứu. 2196 lượt bệnh nhân (1399 nam và 797 nữ), độ tuổi từ 15 0 82, được nội soi từ tháng 6 năm 2005 đến tháng 6 năm 2009 tại Bệnh viện 199 Bộ Công An. Kết quả: kết quả nghiên cứu cho thấy Tỷ lệ nam nữ là: Nam có1399 trường hợp chiếm tỷ lệ 63,71%, so với nữ là 797 trường hợp chiếm tỷ lệ 36,29%. Nhóm bệnh tại thực quản là 59 /2196 chiếm 2,69% tại dạ dày có 1758 /2196 chiếm 80,5%, tại tá tràng có 101/2196 chiếm 12,66%.và nhóm bình thường là 278/2196 trường hợp chiếm 12,66%. Nhóm bệnh viêm gặp 1331/2196 chiếm 60,61%; Nhóm bệnh loét có 391/2196 chiếm 17,81%. Nhóm bình thường có 278/2196 trường hợp chiếm 12,66%. Kết luận: Chúng tôi gặp 16 nhóm bệnh lý ở đường tiêu hoá trên: Tỷ lệ giới mắc bệnh Nam nhiều hơn nữ trong các nhóm bệnh và cả cụ thể trong từng bệnh. Trong nghiên cứu độ tuổi có tỷ lệ cao nhất là 20 0 25 chiếm tỷ lệ 18,99% và độ tuổi thường gặp là 21 0 50 chiếm 59,32%.

Xem chi tiết

Nghiên cứu tác dụng của điện châm điều trị viêm khớp dạng thấp giai đoạn 1 - 2

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Vũ Thường Sơn

Mục tiêu: nghiên cứu đánh giá tác dụng của điện châm trong điều trị viêm khớp dạng thấp giai đoạn 1 0 2. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: được tiến hành trên 34 bệnh nhân viêm khớp dạng thấp giai đoạn 1 0 2 với phương pháp nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng có đối chứng trước sau điều trị. Kết quả: sau 4 tuần điều trị bằng điện châm theo phác đồ của viện châm cứu, các chỉ số Ritchie, Lee, thời gian cứng khớp buổi sáng, mức độ sưng khớp giảm rõ rệt so với trước điều trị. Tốc độ máu lắng và nồng độ CRP, nồng độ Globu0lin IgA, IgG, IgM giảm và IL2 tăng ở mức có ý nghĩa thống kê so với trước điều trị, Kết luận: điện châm có tác dụng giảm đau, tiêu viêm, cải thiện khả năng vận động khớp và thay đổi nồng độ một số gobulin miễn dịch theo hướng có lợi trên bệnh nhân viêm khớp dạng thấp giai đoạn sớm.

Xem chi tiết

Bệnh da và bệnh phong tại 4 xã huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.2

Tác giả: Nguyễn Duy Hưng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá thực trạng bệnh da và bệnh phong tại 4 xã huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa năm 2004. Kết quả cho thấy bệnh da chiếm tỷ lệ 8,0% trên số người dân được khám, trong đó bệnh viêm da cơ địa chiếm tỷ lệ cao nhất (32,3%), bệnh da dị ứng 17,6%, các bệnh da nhiễm khuẩn 14,8%. Bệnh nấm da khá cao 13,0%, bệnh sẩn ngứa và do ký sinh trùng và côn trùng là 12,9%. Phát hiện được 1 bệnh nhân phong tàn tật độ 0, thuộc thể T nhóm PB (tỷ lệ phát hiện « 6,4/100000 dân). Từ đó kết luận: tỷ lệ mắc bệnh da là 8,0%, trong đó các bệnh da thường gặp là bệnh da dị ứng, viêm da cơ địa, bệnh nấm da và bệnh da do ký sinh trùng và côn trùng. Phát hiện được 1 bệnh nhân phong tàn tật độ 0 (tỷ lệ phát hiện » 6,4/100000 dân).

Xem chi tiết

Thực trạng tử vong tại huyện Kim Bảng - tỉnh Hà N

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 4

Tác giả: Hoàng Hoa Sơn, Nguyễn Ngọc Hùng

Tiến hành nghiên cứu hồi cứu gánh nặng tử vong tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam từ 2002 đến 2004 băng bộ công cụ “Giải phẫu lời nói” (Verbal Autopsy). Mục tiêu: (1) Đánh giá các nguyên nhân liên quan đến tình hình tử vong trong ba năm tại huyện Kim Bảng, tỉnh Hà Nam và (2) Xác định gánh nặng tử vong theo số năm bị mất do chết sớm. Đối tượng: Toàn bộ các trường hợp tử vong từ ngày 1 tháng 1 năm 2002 đến ngày 31 tháng 12 năm 2004 thuộc dân số quản lý của huyện. Phương pháp: Phân tích theo đánh giá gánh nặng tử vong của WHO. Kết quả: Tỷ lệ tử vong năm 2004 (5,2‰) tăng 1,22 lần so với năm 2002 (4,52‰). Số năm sống bị mất do chết sớm ở nhóm 0 – 4 tuổi và > 70 tuổi trong cả ba năm đều cao hơn các nhóm khác. Kết luận: (1) Tỷ lệ tử vong trên 103 người tăng do bệnh không truyền nhiễm và tai nạn ngộ độc từ 2002 đến 2004 (KTN: 3,26 – 4,03/103; TNNĐ: 0,53 – 0,58/103): trong đó ở nhóm nam cao hơn ở nữ. Đối với nguyên nhân tử vong do các bệnh truyền nhiễm, có xu hướng giảm từ 2002 đến năm 2004 (0,73 – 0,58/103) nhưng ở nam giới giảm nhiều hơn so với nữ giới.(2) Số năm bị mất do chết sớm trên 103 dân liên quan nhiều đến nhóm tuổi: cao ở các nhóm > 60 (99,95 đến 160,72 năm/103 người) và 0 - 4 tuổi (86,66 – 149,59 năm/ 103 người).

Xem chi tiết

Nghiên cứu thực trạng hút thuốc lá trong học sinh từ 13 - 15 tuổi tại 4 thành phố việt nam, 2007

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phan Thị Hải, Hoàng Văn Minh

Ở Việt Nam, còn rất ít các nghiên cứu về tình hình hút thuốc lá ở thanh thiếu niên và học sinh. Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ hút thuốc lá ở học sinh lứa tuổi 13 0 15 tại 4 thành phố Việt Nam năm 2007; (2) Phân tích mối liên quan giữa thực trạng hút thuốc với kiến thức, thái độ và một số yếu tố môi trường xã hội. Thiết kế nghiên cứu: mô tả cắt ngang với những học sinh từ 13 0 15 tuổi tương ứng với các học sinh đang học lớp 8, 9 và 10 tại các trường trung học cơ sở và phổ thông trung học tại thành phố Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng và Hồ Chí Minh. Kết quả: tỷ lệ nam học sinh đã từng thử hút thuốc lá cao gần gấp 3 lần nữ học sinh (17,4% so với 6,5%). Tỷ lệ hiện đang hút thuốc của nam học sinh cao khoảng 5 lần so với nữ học sinh (6,1% so với 1,3%). Mô hình hồi quy logistic đa biến cho thấy tỷ lệ hút thuốc của nhóm học sinh có bạn thân hút thuốc cao hơn nhóm học sinh không có bạn thân hút thuốc lá là 10,3 lần và tỷ lệ hút thuốc của những học sinh nhìn thấy quảng cáo thuốc lá trên báo hoặc tạp chí cao hơn so với nhóm học sinh không nhìn thấy quảng cáo là 2,1 lần. Kết luận: hút thuốc lá ở nam học sinh ở 4 thành phố là tương đối phổ biến. Những học sinh có bạn thân hút thuốc lá và nhìn thấy quảng cáo thuốc lá thì dễ trở thành người hút thuốc lá hơn. Cần có các can thiệp phù hợp trong nhà trường để ngăn ngừa việc hút thuốc trong học sinh.

Xem chi tiết

Kết quả bước đầu của phương pháp ghép tự thân tấm biểu mô giác mạc nuôi cấy điều trị hội chứng suy giảm tế bào nguồn do bỏng vôi

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 6

Tác giả: Vũ Thị Tuệ Khanh, Hoàng Thị Minh Châu, Nguyễn Thị Bình, Nguyễn Khang Sơn, Trịnh Sinh Tiên, Đỗ Thùy Hương, Đào Thị Thúy Phượng, Nguyễn Phú Thiện, Nguyễn Thị Kim Oanh, Nguyễn Thu Lan, Phan Thị Phượng, Đỗ Doãn Lợi

Mục tiêu: đánh giá kết quả bước đầu của phương pháp ghép tự thân tấm biểu mô giác mạc nuôi cấy điều trị hội chứng suy giảm tế bào nguồn do bỏng vôi. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, thử nghiệm lâm sàng không có đối chứng. Phương pháp ghép tấm biểu mô giác mạc nuôi cấy được thực hiện trên 4 trường hợp hội chứng suy giảm tế bào nguồn sau bỏng mắt do vôi, tại khoa Kết – Giác mạc, bệnh viện Mắt Trung ương. Quy trình tạo tấm tế bào biểu mô giác mạc từ mảnh tổ chức biểu mô vùng rìa giác củng mạc mắt lành nuôi cấy trên màng ối người được thực hiện tại bộ môn Mô 0 Phôi, Trường Đại học Y Hà Nội, từ tháng 11/2008 đến tháng 8/2009. Kết quả: sau phẫu thuật 3 tháng, 3 trong 4 bệnh nhân tấm biểu mô áp tốt, biểu mô bề mặt nhãn cầu (BMNC) nhẵn bóng. Nhuộm biểu mô BMNC bằng fluorescein không thấy tổn thương. Màng xơ mạch không phát triển, hiện tượng viêm trên bề mặt nhãn cầu không xuất hiện. Các triệu chứng chủ quan của người bệnh được cải thiện đáng kể. Thị lực sau phẫu thuật tăng từ 1 0 3 dòng so với trước phẫu thuật. Bệnh nhân thứ 4, vì có tổn thương mi mắt nặng nề nên biểu mô bề mặt nhãn cầu đã bị tổn thương sau phẫu thuật 2 tháng, xơ dính mi cầu tái phát ở phía cùng đồ trên, đòi hỏi can thiệp phẫu thuật tiếp theo. Kết luận: phẫu thuật ghép tự thân tấm biểu mô giác mạc vùng rìa nuôi cấy là phương pháp phẫu thuật mới, hiện đại điều trị hội chứng suy giảm tế bào nguồn sau bỏng mắt, cho kết quả tốt. Tuy nhiên để khẳng định kết quả cần có thêm thời gian theo dõi và thêm số lượng bệnh nhân.

Xem chi tiết