Nghiên cứu vai trò đột biến gen mã hoá phối tử tự nhiên cxcr - 4 (sdf - 1) ở các cặp mẹ - con có mẹ nhiễm hiv – 1 bằng kỹ thuật rflp

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thanh Thuý, Nguyễn Thị Phương Lan

Đột biến thay thế G thành A ở vị trí nucleotid 801 của gen SDF - 1 (liên phối tử CXCR - 4) đã được xem là yếu tố làm chậm tiến triển bệnh ở các bệnh nhân nhiễm HIV - 1. Mục tiêu: (1) Xác định tỷ lệ đột biến này ở 37 sản phụ bị nhiễm HIV - 1 và con của họ; (2) Bước đầu đánh giá vai trò của đột biến này trong việc lây truyền HIV từ mẹ sang con ở giai đoạn thai nằm trong tử cung. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 37 người mẹ được chẩn đoán HIV - 1(+) bằng kỹ thuật PCR sử dụng ADN tách từ máu ngoại vi của người mẹ và máu cuống rốn của con. PCR khuyếch đại SDF - 1 và cắt bằng HpaII để xác định đột biến. Kết quả: (1) Tỷ lệ đột biến của gen SDF - 1 như sau: ở mẹ đồng hợp tử là 5,41%, dị hợp tử là 45,94%; ở con thì đồng hợp tử 2,70%, dị hợp tử 35,14%. (2) 2/37 trẻ sơ sinh PCR HIV(+) không có đột biến gen SDF - 1 và là con của 2 bà mẹ cũng không có đột biến này. Tất cả các trường hợp mẹ có mang đột biến đồng hợp tử hay dị hợp tử của gen mã cho SDF - 1 con của họ sinh ra đều không nhiễm HIV - 1. Kết luận: các tác giả đã phát hiện đột biến SDF1 và bước đầu chứng minh vai trò của nó trong việc lây truyền HIV ở giai đoạn thai nằm trong tử cung.

Xem chi tiết

Độc tính của Shellac F với nguyên bào sợi của nướu người

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Hoàng Tử Hùng, Imad About

Đánh giá độc tính của Shellac F đối với nguyên bào sợi của nướu người. Phương pháp: Phương pháp thử độc tính với tế bào qua chất tiết từ vật liệu theo chuẩn châu Âu ISO 10993 - 5. Tế bào được nuôi cấy trong các môi trường đã tiếp xúc với vật liệu thử, ở các nồng độ khác nhau (pha loãng theo tỷ lệ 1:1, 1:2, 1:10, 1:100, 1:1000, 1:10000). Mật độ tế bào được đánh giá bằng thử nghiệm MTT, sử dụng máy quang phổ kế E 960 (Bioblock, Strasbourg, France) ở bước sóng 550nm. Kết quả: Đối với nguyên bào sợi của nướu người, Shellac F không còn độc tính ở mức độ pha loãng môi trường là 1:10 (tỷ lệ tế bào sống trung bình là 96,13%), tương đương với Duraphat® (98,86%), trong khi đó Isodan không độc ở độ pha loãng 1:100 (tỷ lệ tế bào sống trung bình là 100%). Kết luận: Đối với nguyên bào sợi của nướu người, mức độ độc tính với tế bào của Shellac F tương đương với Duraphat® và thấp hơn Isodan.

Xem chi tiết

Vi khuẩn gram âm mang gen new delhi - metallo-beta-lactamase (NDM - 1) kháng carbapenem phân lập trong môi trường bệnh viện

Năm xuất bản: 2013

Số xuất bản: 5

Tác giả: Trần Huy Hoàng, Heiman Wertheim, Trần Như Dương, Nguyễn Bình Minh, Trần Vân Phương, Trịnh Hồng Sơn, Đặng Đức Anh

Hiện nay, vi khuẩn gram âm mang gen NDM - 1 kháng carbapenem là vấn đề quan trọng tác động đến sức khỏe toàn cầu. Ở Việt Nam, vi khuẩn mang gen NDM - 1 không chỉ phát hiện được trên các bệnh nhân bị nhiễm khuẩn bệnh viện mà còn được phát hiện trong môi trường. Trong nghiên cứu này, 200 mẫu xét nghiệm (tay nhân viên điều dưỡng, xe đẩy y tế, sàn nhà, ga trải giường bệnh và nắp toa lét) tại các khoa Phẫu thuật tiết niệu, Phẫu thuật gan mật và Phẫu thuật tiêu hóa được thu thập để phát hiện vi khuẩn mang gen NDM - 1 bằng kỹ thuật PCR. Các chủng NDM - 1 dương tính sẽ được định danh bằng thanh API - 20E và đánh giá mức độ nhạy cảm kháng sinh. Nghiên cứu phát hiện được 5/200 (2,5%) mẫu dương tính với gen NDM - 1, trong đó 3 mẫu được phát hiện trên ga trải giường bệnh, 1 mẫu ở thùng rác thải y tế và 1 mẫu phát hiện trên nắp toa lét nhà vệ sinh tại hai khoa phẫu thuật tiết niệu và Gan mật. Tất cả các chủng dương tính với NDM - 1 đều kháng lại kháng sinh được thử nghiêm ở mức độ cao, nhưng vẫn còn nhạy cảm với colistin.

Xem chi tiết

Nghiên cứu phối hợp gây tê thần kinh đùi 3 trong 1 và thần kinh hông to đường trước có sử dụng máy dò thần kinh cho phẫu thuật chi dưới

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phạm Thị Khánh Vân, Ngô Văn Thắng, Lê Việt Sơn, Hồ Đức Hùng, Phạm Ngọc Đông

Mục tiêu: (1) đánh giá tác dụng gây tê tk đùi 3/1 và tk hông to đường trước cho pt chi dưới cấp cứu: từ khớp gối trở xuống; (2). đánh giá tác dụng giảm đau sau pt chi dưới của phương pháp gây tê này. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gây tê tk đùi 3/1 và tk hông to tiến hành trên 71 bn chấn thương chi dưới, bằng thuốc tê lidocain 8mg/kg, 1% kết hợp với adrenalin 1/200000. đánh giá mức độ vô cảm trước pt theo phân độ của v.andersen, trong pt theo r.martin và tác dụng giảm đau sau pt theo điểm vas. kết quả: thời gian tiến hành gây tê: 5,8 ± 1,5 phút (3,0 - 10,0 phút). thời gian khởi tê của tk đùi 3/1: 8,5 ± 1,5 phút (5 - 11 phút), của dây tk hông to: 12,7 ± 3,5 phút (7 - 25 phút). thời gian vô cảm là 172,7 ± 25,3 phút (120 - 210 phút). vô cảm trước pt đạt mức 2-3 theo vester andersen với gây tê tk đùi 3/1: 100%, với tk hông to: 98.6%. mức độ vô cảm trong pt theo r.martin: vô cảm hoàn toàn của dây tk đùi và bịt 100%, tk bì đùi ngoài là 98.6%, dây tk chày là 94,4% và dây tk mác chung là 93%. kết luận: phương pháp gây tê tk đùi 3/1 và tk hông to đường trước có sử dụng máy dò tk là 1 phương pháp vô cảm hiệu quả, an toàn cho đa số phẫu thuật ở 1 chi dưới từ khớp gối trở xuống. thời gian giảm đau sau pt là 356,6 ± 67,9 phút với vas < 4 điểm.

Xem chi tiết

Nghiên cứu phối hợp gây tê thần kinh đùi 3 trong 1 và thần kinh hông to đường trước có sử dụng máy dò thần kinh cho phẫu thuật chi dưới

Năm xuất bản: 2006

Số xuất bản: 6

Tác giả: Phạm Tiến Quân, Nguyễn Hữu Tú

Mục tiêu: (1) đánh giá tác dụng gây tê tk đùi 3/1 và tk hông to đường trước cho pt chi dưới cấp cứu: từ khớp gối trở xuống; (2). đánh giá tác dụng giảm đau sau pt chi dưới của phương pháp gây tê này. đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gây tê tk đùi 3/1 và tk hông to tiến hành trên 71 bn chấn thương chi dưới, bằng thuốc tê lidocain 8mg/kg, 1% kết hợp với adrenalin 1/200000. đánh giá mức độ vô cảm trước pt theo phân độ của v.andersen, trong pt theo r.martin và tác dụng giảm đau sau pt theo điểm vas. kết quả: thời gian tiến hành gây tê: 5,8 ± 1,5 phút (3,0 - 10,0 phút). thời gian khởi tê của tk đùi 3/1: 8,5 ± 1,5 phút (5 - 11 phút), của dây tk hông to: 12,7 ± 3,5 phút (7 - 25 phút). thời gian vô cảm là 172,7 ± 25,3 phút (120 - 210 phút). vô cảm trước pt đạt mức 2-3 theo vester andersen với gây tê tk đùi 3/1: 100%, với tk hông to: 98.6%. mức độ vô cảm trong pt theo r.martin: vô cảm hoàn toàn của dây tk đùi và bịt 100%, tk bì đùi ngoài là 98.6%, dây tk chày là 94,4% và dây tk mác chung là 93%. kết luận: phương pháp gây tê tk đùi 3/1 và tk hông to đường trước có sử dụng máy dò tk là 1 phương pháp vô cảm hiệu quả, an toàn cho đa số phẫu thuật ở 1 chi dưới từ khớp gối trở xuống. thời gian giảm đau sau pt là 356,6 ± 67,9 phút với vas < 4 điểm.

Xem chi tiết

Ứng dụng kỹ thuật pcr đa mồi, điện di polyacrylamide, nhuộm bạc để phát hiện các locút str trong xác định huyết thống

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 3.1

Tác giả: Nguyễn Đức Nhự

Đánh giá độc tính của Shellac F đối với nguyên bào sợi của nướu người. Phương pháp: Phương pháp thử độc tính với tế bào qua chất tiết từ vật liệu theo chuẩn châu Âu ISO 10993 - 5. Tế bào được nuôi cấy trong các môi trường đã tiếp xúc với vật liệu thử, ở các nồng độ khác nhau (pha loãng theo tỷ lệ 1:1, 1:2, 1:10, 1:100, 1:1000, 1:10000). Mật độ tế bào được đánh giá bằng thử nghiệm MTT, sử dụng máy quang phổ kế E 960 (Bioblock, Strasbourg, France) ở bước sóng 550nm. Kết quả: Đối với nguyên bào sợi của nướu người, Shellac F không còn độc tính ở mức độ pha loãng môi trường là 1:10 (tỷ lệ tế bào sống trung bình là 96,13%), tương đương với Duraphat® (98,86%), trong khi đó Isodan không độc ở độ pha loãng 1:100 (tỷ lệ tế bào sống trung bình là 100%). Kết luận: Đối với nguyên bào sợi của nướu người, mức độ độc tính với tế bào của Shellac F tương đương với Duraphat® và thấp hơn Isodan.

Xem chi tiết

study on the hiv transmission from mother to child with rt-pcr/hiv-1 aud pcr/hiv-1 methods

Năm xuất bản: 2005

Số xuất bản: 6.1

Tác giả: Dam Tu Anh, Nguyen Thi Vinh Ha, Nguyen Thi Bich Yen, Phan Thi Thu Anh

Today, the number of HIV infected women increases year-by-year but there is no research on either the percentage of HIV transmission from mother to infants or methods of transmission. In this research, we applied RT-PCR and PCR technics to early identify HIV infected infants. Subject and method of the research: 30 blood samples of 15 pairs of mothers and infants (the mothers’ serums were identified having HIV (+). RT-PCR and PCR technics was used to identify HIV infection. RT-PCR technic: to separate RNA from serum to create cDNA and DNA. PCR technic: to separate DNA from lymphocyte of veinal blood. The outcome of PCR reaction was identified by electrophoresis of gel agarose. Gained result: RT-PCR/HIV-1 technic identified 15/15 (100%) mothers carried HIV (+), only identified 7/15 (46,7%) of cord blood samples carried HIV (+). PCR/HIV-1 identified 10/15 (66.7%) of the mother’s blood samples carried HIV (+) and only 1/15 (6.6%) of cord blood samples carried HIV (+). Conclusion: RT-PCR/HIV-1 using pairs of primers to enlarge gp41 area of HIV brings higher positive outcome than PCR/HIV-1. The percentage of HIV transmission from mothers to infants in uteri is 6.6%

Xem chi tiết