Hiệu quả điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp của thuốc “thông mạch sơ lạc hoàn”

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 3.4

Tác giả: Ngô Quỳnh Hoa, Đỗ Thị Phương, Nguyễn Trần Thị Giáng Hương

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng điều trị của thuốc Thông mạch sơ lạc hoàn (TMSLH) và tác dụng không mong muốn của thuốc trong điều trị nhồi máu não sau giai đoạn cấp. Kết quả cho thấy 93,33% bệnh nhâ cải thiện độ liệt Rankin và Orgogoro, 91,11% bệnh nhân cải thiện chỉ số Barthel. Mức chênh điểm Barthel và Orgogoro trước và sau điều trị là 34,22 ± 11,28 và 33,56 ± 11,36 (p < 0 ,01). Kết luận: TMSLH có tính an toàn và tác dụng tốt trong phục hồi chức năng vận động của bệnh nhân NMN sau giai đoạn cấp.

Xem chi tiết

Kết quả bước đầu điều trị nhồi máu não cấp tính bằng alteplase liều 0,6mg/kg tại khoa Cấp cứu bệnh viện Bạch Mai

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Mai Duy Tôn, Nguyễn Đạt Anh, Lê Văn Thính

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của điều trị Alteplase liều 0,6mg/kg đường tĩnh mạch ở bện nhân nhồi máu não cấp tính < 3 giờ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu tiến cứu, quan sa thực hiện ở 12 bệnh nhân tại khoa cấp cứu bệnh viện Bạch Mai từ tháng 9/2009 đến tháng 7/2010. Kết qua Điểm NIHSS cải thiện rõ rệt từ 13 trước dùng thuốc xuống 5 sau 24 giờ và xuống 2 sau 28 ngày. Điểm Rankin 0 - 1 ở tháng thứ 3 là 66,7%. Tỉ lệ xuất huyết não là 8,3%. Kết luận: Kết quả nghiên cứu cho tha dùng thuốc Alteplase ở bệnh nhân nhồi máu não cấp tính có hiệu quả và an toàn.

Xem chi tiết

Nghiên cứu vai trò chẩn đoán của cộng hưởng từ khớp cổ tay trong bệnh viêm khớp dạng thấp

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Ngọc Lan, Lê Thị Hải Hà

Mục tiêu: Xác định vai trò chẩn đoán của cộng hưởng từ so với X quang quy ước khớp cổ tay trong bệnh viêm khớp dạng thấp. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 41 bệnh nhân chẩn đoán theo tiêu chuẩn ACR 1987, từ tháng 01 - tháng 10 - 2006 theo phương pháp nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. Kết quả: Cộng hưởng từ phát hiện bào mòn xương ở 100% bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng so với 0% trên Xquang. Sau 2 năm mắc bệnh, tỷ lệ này là 100% so với 87,5%. Tổn thương trên cộng hưởng từ phát hiện được cả các tổn thương khác: bào mòn xương (100%), viêm màng hoạt dịch (100%); phù xương (100%). Kết luận: So với X quang, cộng hưởng từ phát hiện được các tổn thương đặc hiệu ở khớp cổ tay có giá trị chẩn đoán sớm bệnh viêm khớp dạng thấp. Ngoài hình ảnh bào mòn xương, cộng hưởng từ còn phát hiện được tổn thương viêm màng hoạt dịch và phù xương.

Xem chi tiết

đặc điểm cộng hưởng từ khớp cổ tay trong bệnh viêm khớp dạng thấp

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 3

Tác giả: lê thị hải hà, nguyễn thị ngọc lan

mục tiêu: mô tả đặc điểm cộng hưởng từ khớp cổ tay trong bệnh viêm khớp dạng thấp. đối tượng và phương pháp: 41 bệnh nhân chẩn đoán theo tiêu chuẩn acr 1987, từ tháng 01 - tháng 10 - 2006; nghiên cứu tiến cứu, mô tả cắt ngang. kết quả: tổn thương trên cht theo tiêu chuẩn ramris 2002: 100% viêm mhd (5,9 ± 2,20); 100% có bào mòn xương (15,3 ± 11,06); và 90% có phù xương (7,3 ± 5,86); tổng điểm: 28,6 ± 16, 58. hệ số tương quan giữa điểm viêm mhd và phù xương: r = 0,43, p < 0,01; giữa điểm viêm mhd và bào mòn xương: r= 0,61; p < 0,01; giữa điểm bào mòn xương và phù xương: r = 0,55; p < 0,01. cht phát hiện bào mòn xương ở 100% bệnh nhân mắc bệnh dưới 6 tháng so với 0% trên x-quang. sau 2 năm mắc bệnh, tỉ lệ này là 100% so với 87,5%. kết luận: cht phát hiện được các tổn thương đặc hiệu ở khớp cổ tay có giá trị chẩn đoán sớm bệnh viêm khớp dạng thấp. từ khoá: cộng hưởng từ khớp cổ tay, bệnh viêm khớp dạng thấp

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hình ảnh chụp cắt lớp vi tính của tràn dịch màng phổi do ung thư phổi nguyên phát

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Thanh Mai, Ngô Quý Châu

Đây là nghiên cứu tiến cứu 50 BN bị tràn dịch màng phổi do ung thư phổi - màng phổi nguyên phát điều trị nội trú tại khoa Hô hấp bệnh viện Bạch Mai từ tháng 10/2002 đến hết tháng 11/2003, 62% BN nam, 38% BN nữ, tuổi trung bình là 57,9 + 14,4. Bệnh khởi phát từ từ trên 4 tuần ở 70% BN. Các dấu hiệu lâm sàng thường gặp là: Đau ngực 92%, khó thở 68%, ho khan kéo dài 52%; ho máu 16%. Hội chứng ba giảm gặp 100% ở các trường hợp. Tràn dịch bên phải (60%) nhiều hơn bên trái (36%), 4% BN có TDMP hai bên. Tỷ lệ thấy tế bào ung thư trong dịch màng phổi là 30% và trên mảnh sinh thiết màng phổi là 58,1%. CLVT là một kỹ thuật chẩn đoán hình ảnh cho phép ta xác định dịch màng phổi ở cả các trường hợp ít dịch, xác định được những thương tổn của phổi, trung thất nhỏ, kín đáo mà trên phim X - quang thường không thấy được. Phát hiện u phổi 68,9% so với X-quang thường 6%, phát hiện xâm lấn hạch trung thất (41,4%) so với X-quang thường 0%.

Xem chi tiết

Đánh giá tình trạng thị giác hai mắt sau phẫu thuật lác cơ năng người lớn

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Chí Dũng , Trần Huy Đoàn

Sự cải thiện thị giác 2 mắt (TG2M) sau phẫu thuật lác người lớn đã có nhiều nghiên cứu trên thế giới, nhưng ở nước ta chưa nghiên cứu đầy đủ. Mục tiêu: đánh giá tình trạng TG2M và các yếu tố ảnh hưởng đến phục hồi TG2M sau mổ lác cơ năng người lớn. Phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu mô tả, theo dõi dọc, thực hiện tiến cứu tại bệnh viện Mắt Trung ương từ 10/2005 đến 7/2006. Kết quả: 16,1% bệnh nhân (BN) có thị lực sau mổ tăng từ 0,1 lên 0,4; có 46,2% có cải thiện TG2M sau mổ lác 6 tháng, trong đó BN có đồng thị tăng từ 9,2% lên 13,2%, có đồng thị + hợp thị tăng từ 16,9% lên 47,4%, có cả 3 mức độ TG2M tăng từ 0% lên 10,5%. Tình trạng tương ứng võng mạc bình thường tăng từ 23,0% lên 56,9%. Về các yếu tố ảnh hưởng tới phục hồi TG2M: 1. Tuổi xuất hiện lác: TG2M phục hồi ở 60% số BN bị lác sau 9 tuổi, phục hồi kém nhất (15,4%) ở BN lác xuất hiện sớm trước 6 tháng tuổi; 2. Sự ổn định độ lác: phục hồi TG2M 50,9% ở nhóm lác ổn định; 3.Kết quả chỉnh lệch trục nhãn cầu tốt: phục hồi TG2M ở 50,9%; 4. Lệch khúc xạ 2 mắt: cải thiện TG2M ở 62,9% nhóm không có lệch khúc xạ. Kết luận: thị lực của mắt mổ và TG2M có thể được cải thiện khá tốt sau mổ lác cơ năng người lớn.

Xem chi tiết

Hiệu quả và tính an toàn của mỡ tacrolimus trong điều trị viêm da cơ địa thể vừa và nặng

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Lan Anh, Phạm Văn Hiển, Nguyễn Lê Hoa, Đặng Thu Hương, Trần Hậu Khang, Phạm thị Minh Phương, Diệp Xuân Thanh, Nguyễn Thành

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả và độ an toàn của mỡ tacrolimus trên bệnh nhân viêm da cơ địa người lớn, trẻ em mức độ vừa và nặng tại Viện Da liễu Quốc gia. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 70 bệnh nhân (30 trẻ em, 40 người lớn) VDCD mức độ vừa và nặng được bôi mỡ tacrolimus 0,03% (trẻ em); mỡ 0,1% (người lớn) 2 lần/ ngày x 4 tuần liên tiếp. Kết quả: Ở tuần thứ 4, đánh giá tổng thể của thầy thuốc về đáp ứng lâm sàng thấy tỉ lệ cải thiện ở người lớn 86,7%; trẻ em 80,0%. Chỉ số độ nặng và diện tích da bị VDCD (EASI) đều giảm rất nhanh từ khi bắt đầu điều trị (tuần 0) (trẻ em 17,7 ± 11,9; người lớn 16,78 ± 7,11) cho đến khi kết thúc điều trị (tuần 4) (trẻ em 2,1 ± 1,7; người lớn 2,07 ± 2,09). Đánh giá tổng thể của bệnh nhân cho thấy cải thiện lâm sàng tăng lên rõ rệt, mức độ từ khá trở lên ở trẻ em là 83,4%; người lớn 88,4%. Chỉ số ngứa ở cả người lớn và trẻ em đã giảm rõ rệt. Chỉ số đánh giá chất lượng cuộc sống tăng lên đến khi kết thúc điều trị (tuần 4). Tác dụng không mong muốn gặp tỉ lệ thấp 13,6% và chỉ gặp ở người lớn, trong đó triệu chứng thường gặp nhất là ngứa 23,7%, cảm giác rát bỏng tại nơi bôi thuốc 10,5%. Kết luận: Thuốc mỡ tacrolimus hiệu quả và an toàn trong điều trị VDCD trẻ em, người lớn mức độ vừa và nặng ở nhóm nghiên cứu.

Xem chi tiết

Đánh giá in vitro vi kẽ của phục hồi xoang loại II sử dụng sonicsys®

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Hoàng Tử Hùng

Mục tiêu: Thử nghiệm được thực hiện nhằm đánh giá in vitro vi kẽ thành nướu của phục hồi xoang loại II sử dụng SONICSYS® hai loại vật liệu gắn dán khác nhau. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Ba mươi sáu xoang loại II được chuẩn bị bằng các đầu chức năng SONICSYSapprox trên các răng cối lớn vĩnh viễn không sâu mới nhổ. Phục hồi được thực hiện bằng inlay glass - ceramic làm sẵn của hệ thống SONICSYS®, sử dụng hai loại vật liệu gắn dán khác nhau là composite lỏng quang trùng hợp Tetric®Flow / với hệ thống dán Syntac®Single - Component có xử lý men ngà (nhóm 1), và xi - măng ionomer lai tự trùng hợp ProtecCEM (nhóm 2). Điều kiện đánh giá của thử nghiệm là chu trình nhiệt (100 chu kỳ, 50 C - 600 C). Mức độ thâm nhập chất màu ở mặt tiếp giáp răng - phục hồi dọc thành nướu được đánh giá theo thang điểm từ 0 đến 3 dưới kính hiển vi nổi với độ phóng đại 30 lần. Kết quả: 38,9% phục hồi ở nhóm 1 và 11,1% phục hồi ở nhóm 2 có chất lượng tiếp hợp bờ ở thành nướu hoàn toàn tốt; có sự khác biệt có ý nghĩa về mức độ thâm nhập chất màu ở thành nướu của phục hồi ở hai nhóm thử nghiệm. Kết luận: Trong điều kiện thử nghiệm, có the nhận định rằng phương pháp sử dụng inlay làm sẵn SONICSYS® không ngăn chặn được hoàn toàn sự hình thành vi kẽ ở thành nướu của phục hồi xoang loại II; sử dụng composite lỏng Tetric®Flow kết hợp với he thống dán và xử lý men ngà để gắn inlay glass - ceramic làm sẵn cho chất lượng tiếp hợp bờ cao hơn so với sử dụng xi - măng ionomer lai tự trùng hợp ProtecCEM.

Xem chi tiết