Đánh giá kết quả điều trị Ung thư đại tràng di căn Gan bằng hóa chất phác đồ XELOX

Chuyên ngành: Ung thư

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Vũ Hồng Thăng

Tên tác giả: BÙI THỊ TÂM

ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Ung thư đại trực tràng (UTĐTT) là một trong những loại ung thư phổ biến trên thế giới, đứng thứ ba ở nam sau ung thư phế quản phổi và ung thư tiền liệt tuyến, đứng thứ hai ở nữ sau ung thư vú. Mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 1360602 ca mới mắc ở cả hai giới và 693900 ca tử vong vì UTĐTT. Tại Việt Nam, theo Globocan 2012, số ca mới mắc UTĐTT là 8768 trường hợp, số ca tử vong là 5976 trường hợp, trong đó tỷ lệ mắc ở nam và nữ tương ứng là 11,5 và 9,0 trên 100.000 dân, tỷ lệ nam/nữ là 1,28 [1].

Các phương pháp chẩn đoán và điều trị UTĐTT đã có nhiều tiến bộ, đặc biệt chẩn đoán sàng lọc phát hiện sớm UTĐTT đã đem lại nhiều lợi ích trong việc giảm tỷ lệ tử vong và tăng tỷ lệ sống thêm 5 năm sau điều trị [2]. Tuy nhiên, triệu chứng lâm sàng của UTĐTT thường ít rầm rộ nên vẫn còn một tỷ lệ không nhỏ những bệnh nhân đến viện ở giai đoạn muộn, có di căn xa. Gan là vị trí di căn hay gặp nhất, thường xuất hiện sau phẫu thuât điều trị ung thư tại chỗ. Ngoài ra, có 20-34% bệnh nhân phát hiện di căn gan ngay từ lần đầu chẩn đoán UTĐTT. Với sự tiến bộ trong chẩn đoán hình ảnh, sự phát triển của các trung tâm phẫu thuật và sự phối hợp đa chuyên khoa trong điều trị UTĐTT di căn, các khối di căn ở gan đã có thể phẫu thuật điều trị triệt để cùng với ung thư nguyên phát. Mặc dù vậy, 80%-90% những bệnh nhân ung thư đại trực tràng di căn gan không thể phẫu thuật và hóa trị liệu vẫn đóng vai trò lớn trong việc kéo dài thời gian sống thêm và cải thiện chất lượng sống cho người bệnh [3].

Xem chi tiết