Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và căn nguyên vi sinh trong đợt cấp bệnh Phổi tắc nghẽn mạn tính tại trung tâm hô hấp bệnh viện Bạch Mai

Chuyên ngành: Nội khoa

Tên hướng dẫn: PGS.TS. PHAN THU PHƯƠNG

Tên tác giả: NGUYỄN MẠNH THẮNG

ĐẶT VẤN ĐỀ

 

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (BPTNMT) là một bệnh phổ biến có thể phòng ngừa và điều trị được, đặc trưng bởi sự tắc nghẽn luồng khí thở mạn tính, thường tiến triển nặng dần liên quan đến đáp ứng viêm mạn tính quá mức ở đường hô hấp và nhu mô phổi với các phần tử hoặc chất khí độc hại [1].

Năm 1990, nghiên cứu về tình hình bệnh tật toàn cầu của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) ước tính tỷ lệ mắc BPTNMT trên thế giới là 9,33/1000 dân đối với nam và 7,3/1000 dân đối với nữ [2].

          Ở Việt Nam, theo Ngô Quý Châu và CS (2005) tỷ lệ mắc BPTNMT trong dân cư thành phố Hà Nội chung cho cả hai giới là 2% (nam: 3,4% và nữ: 0,7%) [3]. Tỷ lệ mắc BPTNMT ở những người trên 40 tuổi ở thành phố Hải Phòng là 5,65% (nam: 7,91% và nữ: 3,63%) [4]. Trong một nghiên cứu tại thành phố Bắc Giang về tỷ lệ mắc BPTNMT ở những người trên 40 tuổi là 2,3% (nam: 3,0%, nữ: 1,7%) [5].

Theo WHO, BPTNMT là nguyên nhân gây tử vong xếp thứ 6 trong các nguyên nhân gây tử vong trong năm 1990, dự kiến năm 2020 tỷ lệ tử vong do BPTNMT sẽ đứng thứ 3 sau các bệnh thiếu máu cơ tim và bệnh mạch máu não. Với tỷ lệ mắc và tử vong ngày càng tăng cũng như chi phí điều trị cao, BPTNMT đã đang và sẽ luôn là một thách thức lớn trong vấn đề chăm sóc sức khỏe trên toàn cầu.

Xem chi tiết