Tình hình bệnh nhân bị tổn thương gan do sán lá gan lớn (Fasciola spp.) gây ra ở khoa phẫu thuật gan-mật, bệnh viện Việt-Đức năm 2006.

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Đoàn Thanh Tùng, Nguyễn Thị Giang Thanh, Nguyễn Văn Đề, Đõ Tuấn Anh,

Bệnh sán lá gan lớn là bệnh chung của người và gia súc do loài Fasciola spp. thuộc lớp sán lá Trematoda gây nên. Sán lá gan lớn thường ký sinh trong đường mật của gia súc thuộc động vật ăn cỏ như: trâu, bò, dê, cừu.... gây ra những tổn thương, canxi hoá ở thành ống mật và những ổ áp-xe nhiễm trùng, tổn thương những tế bào gan ở các phân thuỳ của gan. Tỷ lệ nhiễm sán lá gan lớn ở gia súc ăn cỏ ở nước ta rất cao từ 30% tới 90% [1], là nguồn tàng trữ mầm bệnh rất lớn. Tình trạng bệnh sán lá gan ở người đang báo động ở các tỉnh Miền trung: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa.... theo báo cáo của Viện Sốt rét, Ký sinh trùng và Côn trùng Quy Nhơn số bệnh nhân sán lá gan lớn tăng tới con số 2641 trong năm 2006 chiếm 75% số bệnh nhân trên toàn quốc (). Bệnh nhân sán lá gan lớn đã xuất hiện ở 45 tỉnh/ 64 tỉnh trong đó 23 tỉnh ở miền Bắc [5,8]. Khoa phẫu thuật Gan- Mật của bệnh viện Việt Đức là nơi tiếp nhận bệnh nhân đa dạng về bệnh gan và mật đến từ nhiều tỉnh phía Bắc, chúng tôi đã tiến hành điều tra những bệnh nhân bị tổn thương gan - mật do sán lá gan lớn gây nên bằng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh: siêu âm (ultrasound), computer tomography - CT, cộng hưởng từ (magnetic resonant cholangiopancreatography -MRCP) và các xét nghiệm ký sinh trùng học và miễn dịch học. Mục đích của nghiên cứu này nhằm đánh giá và sử dụng đúng các phương pháp chẩn đoán, phát hiện các bệnh nhân bị nhiễm sán lá gan lớn đưa ra hướng điều trị theo ký sinh trùng học tránh những phẫu thuật đáng tiếc và các tổn thất về kinh tế cho người bệnh, đồng thời cũng nghiên cứu các biểu hiện triệu chứng và bệnh tích khác nhau của bệnh sán lá gan lớn ở người nhằm nâng cao kinh nghiệm chẩn đoán cho các bác sĩ chuyên khoa.

Xem chi tiết

Ứng dụng sinh học phân tử xác định các giai đoạn phát triển của sán lá truyền lây qua cá từ các ký chủ trong vòng đời

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Kim Văn Vạn, Lê Thanh Hòa, Nguyễn Văn Đề, Anders Dalgaard

Sán lá truyền lây qua cá Haplorchis spp. giai đoạn trưởng thành thường ký sinh trong ruột non của người và động vật ăn thịt (chó, mèo...), giai đoạn ấu trùng ký sinh trong ốc, cá. Mẫu sán trưởng thành và ấu trùng được thu từ người, chó, mèo, ốc, cá ở Nghệ An và Nam Định, từ người và cá ở Băng Cốc, Thái lán. Mẫu sán được phân tích và giám định bằng phương pháp sinh học phân tử tại Viện Công nghệ sinh học dựa trên phản ứng PCR gen ITS-2 với mồi xuôi là 3SF: 5’-GGTACCGGTGGATCACTCGGCTCGTG-3’ và mồi ngược BD2R: 5'-TATGCTTAAATTCAGCGGGT-3'), ở nhiệt độ bám mồi là 50oC, và giải trình trình tự phân tích gen. Chuỗi gen ITS-2 thu được có độ dài 290 bp là của H. pumilio và 445-446 bp là của H. taichui. Cây phả hệ được xây dựng trên dữ liệu 6 mẫu H. tai chui và 12 mẫu H. pumilio từ Việt nam và Thái lan. Nghiên cứu này lần đầu tiên được thực hiện trên sán lá truyền lây qua cá ở Việt nam để kiểm chứng các ký chủ trong vòng đời của sán truyền lây qua cá.

Xem chi tiết

Nghiên cứu dịch tễ, biểu hiện bệnh lý và điều trị bệnh sán lá phổi ở huyện Lục Yên tỉnh Yên Bái

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Lương Bá Phú

Tại 6 xã ở huyện Lục Yên năm 2002-2003, bệnh nhân sán lá phổi được phát hiện ở 3 xã, 80,8% là trẻ em, 100% có tiền sử ăn cua đá nướng. Tỷ lệ mang ấu trùng sán lá phổi của cua đá là trên 90%, ngược lại cua đồng không mang ấu trùng. Định loại sán lá phổi bằng sinh học phân tử là loài Paragonimus heterotremus. Biểu hiện bệnh lý chính là 100% số bệnh nhân có ho kéo dài, có đờm màu rỉ sắt, khó thở khi gắng sức, không sốt, tiến triển từng đợt; 97,8% bệnh nhân có đờm lẫn máu, 80,7% bị tức ngực; 66,6% trẻ em giảm sút cân nặng, ngón tay hình dùi trống chiếm 3,8%. X quang phổi có hình ảnh mảng mờ 61,9%, nốt mờ 57,1%, hang nhỏ 9,5%, tổn thương vùng thấp 90,4%, hạch trung thất to 23,8%, tràn dịch màng phổi 9,5%, bạch cầu ưa axít tăng trong 88,5% trường hợp. Điều trị với Praziquantel 25mg/kg x 3 lần/ngày x 2 ngày kết qủa khỏi bệnh là 92,3%.

Xem chi tiết

Sự hiện diện của Cyclospora spp trong rau ăn sống và nước được thu thập từ chợ và ruộng ở Hà Nội, Việt Nam

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Nguyễn Thùy Trâm, Linda Hoàng, Phùng Đắc Cam, Phan Thu Chung, Murray Fyfe, Judy Isaac-Renton, Corinne Ong

Nhằm xác định tỷ lệ lưu hành của bào nang Cyclospora spp trong rau ăn sống và nước ở chợ cũng như mẫu phân của các bệnh nhân tiêu chảy ở Hà nội, Việt nam. Từ tháng 11 năm 2004 đến tháng 10 năm 2005, các mẫu nước và mẫu rau ăn sống được thu thập tại chợ và ruộng ở Hà nội để kiểm tra sự có mặt của các bào nang Cyclospora spp oocysts bằng kính hiển vi huỳnh quang. Bên cạnh đó, nghiên cứu giám sát trên người cũng được thực hiện ở bệnh viện thông qua bộ câu hỏi đã thiết kế sẵn tập trung vào các yếu tố nguy cơ có thể gặp. Mẫu phân được thu thập từ các bệnh nhân bị tiêu chảy và được kiểm tra về sự hiện diện của các bào nang bằng phương pháp soi tươi và nhuộm axit nhanh cải tiến có sử dụng kính hiển vi thường và kính hiển vi huỳnh quang. Các mẫu rau sống và mẫu nước được tìm thấy ở 34 mẫu (11.8%) tại chợ và 24 mẫu tại ruộng (8.4%). Tất cả các mẫu rau sống được bán tại chợ và được trồng ở ruộng đều bị nhiễm Cyclospora . Nhiễm bẩn Cyclospora cũng có dấu hiệu theo mùa và thấy khá phổ biển vào đầu mùa mưa (39/288) từ tháng 11 đến tháng 4 so với mùa mưa (19/268) từ tháng 5 đến tháng 10 (χ2 = 7.593, p = 0.006). Tuy nhiên, không tím thấy Cyclospora spp trong mẫu phân thu thập tại bệnh viện. Các kết quả này cho thấy Cyclospora spp được tìm thấy trong mẫu nước và mẫu rau ăn sống được thu thập tại chợ và ruộng ở Hà nội. Sự có mặt của nó cũng mang tính mùa. Các từ khóa chính: Cyclospora spp, tính mùa, mẫu rau ăn sống, mẫu nước, chợ, ruộng, Hà nội.

Xem chi tiết

Bệnh sán lá gan lớn ở trẻ em: Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả phác đồ điều trị của triclabendazole (TCZ) tại khu vực miền Trung – Tây Nguyên, Việt Nam từ 2005-2007

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Văn Khá và cộng sự

Giới thiệu và mục tiêu: Sán lá gan lớn (SLGL) là bệnh của hệ gan mật gây ra bởi loài Fasciola spp. Con người bị nhiễm tình cờ do ăn phải rau sống hoặc uống nuớc lã có chứa các metacercariae. Hiện tại, báo cáo về đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và hiệu quả phác đồ điều trị loại sán này trong nhi khoa còn hạn hữu. Nghiên cứu này tiến hành nhằm mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và đánh giá hiệu quả phác đồ điều trị triclabendazole (TCZ) trên bệnh nhi mắc SLGL. Phương pháp: tổng số 212 bệnh nhi đủ tiêu chuẩn đưa vào nghiên cứu ngang mô tả và thử nghiệm lâm sàng không đối chứng, thời gian 180 ngày theo dõi; hiệu quả phác đồ của TCZ được đánh giá qua hiệu giá kháng thể, eosin, siêu âm gan mật, cải thiện triệu chứng. Kết quả: triệu chứng lâm sàng thường gặp trên bệnh nhi SLGL: đau vùng thượng vị-mũi ức (94,34%), đầy bụng, buồn nôn và nôn (76,41%), rối loạn tiêu hóa (40,57%), dị ứng và mày đay (30,66%), mệt lả, sụt cân (12,74%); 100% bệnh nhi có tổn thương gan trên SA, 96,70% có FascELISA (+), 93,39% tăng eosin, 2 ca tìm thấy trứng trong phân; hiệu quả TCZ được chứng minh qua cải thiện triệu chứng, sự phục hồi tổn thương trên SA và chuyển đổi huyết thanh sang (-) sau 6 tháng lần lượt là 100%, 99,06% và 95,75%; Thuốc hiệu quả với độ an toàn cao, tác dụng phụ thoáng qua, nếu có chỉ là đau do co thắt hệ đường mật (8,49%), rối loạn tiêu hóa (9,43%), ngứa và mày đay nhẹ (24,53%), nhức đầu, chóng mặt nhẹ (0,94%). Kết luận: hình ảnh lâm sàng tương tự với một số bệnh lý tiêu hóa và gan mật; FascELISA, eosin và SA là những tiêu chuẩn chính rất có giá trị để chẩn đoán và theo dõi điều trị bệnh; TCZ là thuốc diệt SLGL có tiềm lực cao, điều trị triệt để khỏi 95,75-99,06% với F.gigantica với liều 10mg/kg duy nhất.

Xem chi tiết

Giám định phân tử loài sán lá gan lớn (fasciola spp. ) gây bệnh ở dê tại Việt Nam

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Nguyễn Thị Giang Thanh, Nguyễn Thị Bích Nga, Nguyễn Văn Đề, Lê Thanh Hoà

Bệnh sán lá gan lớn ở người và động vật chủ yếu do hai loài Fasciola hepatica và Fasciola gigantica (thuộc họ Fasciolidae) gây nên. Các loài động vật ăn cỏ: trâu, bò, dê, cừu... là loài cảm nhiễm với sán lá gan lớn (Fasciola spp.) tuy nhiên chúng cũng gây bệnh cho người. Tỷ lệ nhiễm bệnh sán lá gan rất cao gia súc ở gia súc và ở người tỷ lệ nhiễm bệnh này cũng gia tăng ở Việt Nam trong những năm gần đây. Để đánh giá sự biến đổi của hệ gen trong quần thể sán lá gan lớn (Fasciola spp.) gây bệnh trên đối tượng vật chủ khác nhau ở nước ta, chúng tôi đã khảo sát hai gen cox1 (cytochrome c oxidase subunit I), nad1 (nicotinamide dehydrogenase subunit I) thuộc hệ gen ty thể và ITS2 (internal transcribed spacer 2) thuộc hệ gen nhân (nuclear – rDNA) trên đối tượng gia súc là con dê. Kết quả giải trình trình tự của các gen khảo sát và so sánh với ngân hàng gen, mẫu sán thu thập trên dê thuộc loài Fasciola gigantica và loài trung gian lai giữa F. hepatica (con cái) x F. gigantica (con đực) cùng tồn tại trong quần thể sán lá gan lớn tồn tại ở Việt Nam.

Xem chi tiết

Đặc điểm tổn thương hệ gan mật qua hình ảnh siêu âm do sán lá gan lớn fasciolae spp. gây ra

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Huỳnh Hồng Quang, Nguyễn Văn Khá, Đinh Trọng Sơn

Giới thiệu và mục tiêu: Tại Việt Nam, siêu âm (SA) được ứng dụng đầu năm 1987 và là một chẩn đoán hình ảnh dễ sử dụng, ít xâm lấn cơ thể và chính xác. Vì ưu điểm như vậy, SA ngày càng trở nên phổ biến dùng chẩn đoán, nhất là những nơi bệnh sán lá gan lớn do Fasciolae spp. lưu hành. Thực hiện nghiên cứu này, chúng tôi mô tả một số đặc điểm tổn thương do sán lá gan lớn (SLGL) gây ra trên hệ gan-mật của bệnh nhân. Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu cắt ngang mô tả 1.020 bệnh nhân được xác định SLGL từ một số tỉnh, thành miền Trung-Tây Nguyên đến Viện Sốt rét KST-CT Quy Nhơn khám và điều trị. Qua SA hệ gan mật với máy SA Aloka, đầu dò 3.5-5MHz khảo sát. Kết quả: với 1020 bệnh nhân mắc SLGL, số lượng bệnh nhân tổn thương hệ gan mật là 992(97.25%), đa số tập trung ở nhu mô gan (88.4%), sát bao gan (1.41%), khối máu tụ dưới bao gan (3.53%) và hệ đường mật khoảng 7%; nhu mô gan (P) tổn thương (80.28%) nhiều hơn gan (T) ; ưu thế thuộc về hạ phân thùy V, VI, VII, VIII với 80.28%; số khối tổn thương thường 1 hoặc 2 ổ (86.32% và 12.09%); đường kính trung bình tổn thương 5-<7cm chiếm đa số (53.14%); đặc điểm và tính chất hồi âm của tổn thương gan thường là nhu mô không đồng nhất (96.27%), giảm âm (83.12%) và echo hỗn hợp (59.86%). Trong giai đoạn mạn tính, hình ảnh SA không điển hình, hay gặp là dạng vệt tăng âm, di động hoặc thả nổi trong lòng túi mật hoặc đường mật (1.84%); dày vách túi mật (2.52%) và phù nề đường mật không đều (1.85%), tổn thương cả gan và mật là 1.18%. Kết luận: SA là một thủ thuật hữu ích để xác định tổn thương trên hệ gan mật của bệnh nhân SLGL, cả giai đoạn cấp lẫn mạn tính và chúng có thể là phương tiện chẩn đoán hỗ trợ, nhất là những vùng SLGL lưu hành. Vì hình ảnh đôi khi không rõ ràng, nên chúng ta không quên chẩn đoán phân biệt nếu nghi ngờ.

Xem chi tiết