Thực trạng và các yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực tại trung tâm y tế huyện Gia Lâm - Hà Nội năm 2009

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lương Ngọc Khuê

Trung tâm y tế huyện Gia Lâm - Hà Nội đang đứng trước khó khăn về nguồn nhân lực, với mục đích đánh giá nguồn nhân lực của Trung tâm và thực tiễn quản lí nhân lực tại Trung tâm trong năm 2009, nghiên cứu này được tiến hành với mục tiêu: (1) Đánh giá thực trạng và sự biến động nguồn nhân lực; (2) Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến nguồn nhân lực tại Trung tâm y tế huyện Gia Lâm năm 2009. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, kết hợp nghiên cứu định lượng, định tính và nghiên cứu hồi cứu tại Trung tâm y tế huyện Gia Lâm. Kết quả: Trung tâm còn thiếu nhân lực y tế chủ yếu là bác sỹ, dược sỹ đại học và một số chuyên khoa như chuyên khoa mắt, tai mũi họng, da liễu, kỹ thuật viên xét nghiệm, XQ, sản... Qua 5 năm (2005 - 2009) tốc độ phát triển bình quân nhân lực y tế tại Trung tâm tăng lên 8,5%/năm; Có tới 77,9% nhân lực của Trung tâm nằm ở các phòng khám khu vực và các trạm y tế xã, thị trấn; Công tác nâng cao năng lực quản lí, trình độ tin học và ngoại ngữ còn nhiều hạn chế. Công tác quản lí nhân lực của Trung tâm còn nhiều vấn đề vướng mắc cần giải quyết. Kết luận: Đào tạo phát triển nguồn nhân lực có ảnh hưởng chưa tốt đến nâng cao trình độ chuyên môn cho nhân viên. Do vậy, việc áp dụng nhiều hình thức đào tạo là rất cần thiết.

Xem chi tiết

Ỷ kiến của sinh viên về dạy/ học môn đạo đức y học tại tám trường đại học y

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Thu Hòa, Nguyễn Đức Hinh, Lê Thị Tài

Để tìm hiểu nhu cầu học tập của sinh viên về môn Đạo đức y học (ĐĐYH), nhóm nghiên cứu đã điều tra 646 sinh viên tại 8 trường Đại học Y. Mục tiêu: Khảo sát nhu cầu đào tạo của sinh viên về môn Đạo đức y học tại các trường Đại học Y. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: sinh viên chia 2 nhóm: 322 sinh viên năm đầu đi bệnh viện (nhóm 1) và 324 sinh viên hai năm cuối (nhóm 2). Phương pháp nghiên cứu cắt ngang mô tả. Kết quả: 97,99% sinh viên mong muốn được học ĐĐYH trong chương trình chính khóa. 84,5% thấy “kiến thức đạo đức là chưa đủ cho thực hành nghề nghịêp sau này, cần phải được học thêm”. Phương pháp dạy/học tích cực, lượng giá bằng trắc nghiệm và phân tích tình huống được hầu hết sinh viên lựa chọn. Kết luận. Nhu cầu học ĐĐYH của sinh viên là chính đáng và cần được đáp ứng.

Xem chi tiết

Sử dụng phương pháp ghép cặp xác suất "propensity score matching – psm" đánh giá hiệu quả học tập môn Tổ chức quản lý y tế tại Đại học Y Hà Nội 2009 - 2010

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Văn Huy, Đào Thị Minh An

Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả học tập môn Tổ chức Quản lý Y tế (TCQLYT) đối với hành vi LKHHT của sinh viên đa khoa tại trường Đại học Y Hà Nội sử dụng kỹ thuật PSM. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế điều tra sau, phương pháp định lượng, cỡ mẫu 421 sinh viên đa khoa, phân tích thống kê SEM, Biprobit và Pscore. Kết quả: Sau khi hiệu chỉnh tất cả các yếu tố để đạt sự tương đồng giữa 2 nhóm tiếp cận và không tiếp cận với môn học TCQLYT, có sự khác biệt về hành vi LKHHT giữa nhóm sinh viên tiếp cận và không tiếp cận, với sự khác biệt ròng 18,60% (p = 0,05). Kết luận và kiến nghị: Học tập môn TCQLYT có vai trò nhất định trong việc tác động đến hành vi LKHHT của sinh viên. Do ưu điểm và giá trị nhất định của Pscore, cần ứng dụng và nhân rộng ra đối với môn học khác trong các trường đại học y nhằm đánh giá hiệu quả dạy và học.

Xem chi tiết

Thay đổi khẩu phần ăn của phụ nữ mang thai sau can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lê Văn Ninh, Phạm Văn Phú

Cải thiện tình trạng dinh dưỡng của phụ nữ mang thai (PNMT) là rất cần thiết nhằm làm giảm tỷ lệ chết mẹ, tử vong sơ sinh, cân nặng sơ sinh thấp và giảm tình trạng suy dinh dưỡng ở những năm đầu cuộc sống của đứa trẻ... Mục tiêu: Đánh giá sự thay đổi khẩu phần ăn của PNMT tại xã Phù Linh, huyện Sóc Sơn, Hà Nội sau can thiệp truyền thông giáo dục dinh dưỡng, hướng dẫn sử dụng nguồn thực phẩm sẵn có. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu thử nghiệm cộng đồng trên bà mẹ có thai. Kết quả: Sau 6 tháng can thiệp mức tiêu thụ LTTP trong khẩu phần PNMT tăng rõ rệt ở các nhóm ngũ cốc, quả chín, cá và hải sản, sữa, bánh kẹo; riêng nhóm đậu đỗ và rau không tăng hoặc tăng chưa đáng kể. Tất cả các chất dinh dưỡng của khẩu phần đều được cải thiện nâng lên so với ban đầu, riêng năng lượng sau can thiệp đạt 106,4% NCKN. Tỷ lệ các chất dinh dưỡng trong cả 2 khẩu phần trước và sau can thiệp đều khá cân đối. Tuy vậy, khẩu phần sau can thiệp cân đối trong điều kiện đầy đủ lượng chất dinh dưỡng nên giá trị sinh học sẽ cao hơn rất nhiều. Một số chất dinh dưỡng thiết yếu cho PNMT rất khó đáp ứng NCKN đó là canxi và sắt: trước can thiệp canxi đáp ứng được 76,7%; sắt đáp ứng 29,1%; sau can thiệp cũng chỉ đáp ứng được 86,0% nhu cầu canxi và 40,3% nhu cầu sắt. Kết luận: Khẩu phần PNMT xã Phù Linh đã được cải thiện cả về số lượng và chất lượng nhưng riêng canxi và sắt chưa đáp ứng được nhu cầu.

Xem chi tiết

Dinh dưỡng và một số yếu tố ảnh hưởng ở trẻ dưới 24 tháng tuổi

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Văn Phú, Phạm Tùng Sơn

Suy dinh dưỡng trong 2 năm đầu ảnh hưởng nặng nề tới sự phát triển thể chất và trí tuệ của trẻ. Hiện tại, các nghiên cứu về tình trạng dinh dưỡng (TTDD) trẻ em dưới 24 tháng tuổi ở các vùng có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống còn chưa nhiều. Mục tiêu: (1) Đánh giá TTDD của trẻ dưới 24 tháng tuổi ở một số xã có nhiều dân tộc ít người sinh sống thuộc huyện Chiêm Hóa, Tuyên Quang. (2) Xác định một số yếu tố ảnh hưởng đến TTDD. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 264 cặp mẹ con được điều tra cắt ngang mô tả. Kết quả: Tỷ lệ SDD theo CN/T, CC/T, CN/CC lần lượt là 15,9%; 26,5%; 8,0%; trong đó 6,4% trẻ bị thấp còi trầm trọng. Trẻ của ông bố có học vấn dưới cấp 3 có tỷ lệ SDD nhẹ cân cao hơn hẳn so với nhóm trẻ của ông bố có học vấn = cấp 3 (p < 0,001). Trẻ của bà mẹ khi mang thai tăng đủ 10 - 12kg hoặc sau sinh được uống viên nang vitamin A 200.000 UI có tỷ lệ SDD gày còm thấp hơn so với nhóm trẻ của bà mẹ khi mang thai không tăng đủ cân hoặc sau sinh không được uống vitamin A (p < 0,05). Trẻ có mẹ bị thiếu nhiệt lượng trường diễn có tỷ lệ SDD nhẹ cân hoặc gầy còm cao hơn so với trẻ có mẹ TTDD bình thường (p < 0,05 và 0,001 lần lượt). Kết luận: Ngay trong 2 năm đầu trẻ đã bị SDD với tỷ lệ khá cao đặc biệt là SDD thể thấp còi (chung: 26,5%; trong đó 6,4% bị thấp còi trầm trọng). Trình độ học vấn của bố, tăng cân của mẹ khi mang thai, mẹ uống vitamin A sau đẻ và TTDD của bà mẹ là những yếu tố ảnh hưởng đến TTDD của trẻ.

Xem chi tiết

Mô hình bệnh tật của bệnh nhân nhập viện tại bệnh viện tỉnh Chăm Pa Sắc, Nam Lào

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Xaly Sathathone, Nguyễn Văn Hiến, Vũ Diễn

Mục tiêu: Mô tả cơ cấu bệnh của bệnh nhân nhập viện và so sánh sự thay đổi mô hình bệnh tật của bệnh nhân nhập viện trong thời gian 15 năm qua tại bệnh viện tỉnh Chăm Pa Sắc Nam Lào. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu theo phương pháp mô tả. Sử dụng tất cả hồ sơ bệnh nhân nhập viện trong những năm 1995, 2000, 2005 và 2009 để thống kê các loại bệnh theo nhóm bệnh và loại bệnh mắc cao nhất. Kết quả: Có sự khác nhau về tỷ lệ các nhóm bệnh lây truyền, và không lây truyền và tai nạn giao thông của bệnh nhân nhập viện vào các năm khảo sát. Tỷ lệ các bệnh lây vẫn chiếm cao nhất trong các năm khảo sát, chiểm khoảng từ 49% đến 53%. Tỷ lệ bệnh nhân bị tai nạn giao thông năm 1995 là 11,9% đến năm 2009 tăng lên 17,7%. Kết luận: Mô hình bệnh tật của bệnh nhân nhập bệnh viện tỉnh Chăm Pa Sắc Lào trong vòng 15 năm qua có sự thay đổi do tác động của phát triển kinh tế, xã hội. Đáng chú ý nhất là tỷ lệ nhập viện do tai nạn giao thông tăng lên, tỷ lệ một số bệnh như cao huyết áp, tâm thần kinh cũng có xu hướng tăng lên, tuy nhiên các bệnh nhân bị bệnh nhiễm trùng vẫn chiếm tỷ lệ cao nhất.

Xem chi tiết

Tình trạng răng nhiễm sắc và nhu cầu làm trắng răng ở người trưởng thành tại Hà Nội năm 2009 - 2010

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Thị Hương Giang, Nguyễn Mạnh Hà, Đỗ Quang Trung

Mục tiêu: đánh giá tỷ lệ răng nhiễm sắc và nhu cầu làm trắng răng của người trưởng thành tại Hà Nội. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thiết kế mô tả cắt ngang trên 1076 bệnh nhân tuổi từ 18 - 60 đến khám răng tại Trung Tâm Y tế quận Đống Đa 9/2009 - 9/2010. Kết quả: tỷ lệ răng nhiễm sắc rất cao (86,9%). Có 3 nguyên nhân chính gây răng nhiễm sắc trong đó nguyên nhân ngoại lai đứng hàng đầu (40,9%), tiếp đến là nhiễm flour (23,1%), sau cùng là tetracycline (22,9%), chỉ có 13,1% người có răng không nhiễm sắc. Mong muốn có bộ răng trắng sáng chiếm 77,61% trong đó lứa tuổi 18 - 24 nữ chiếm tỷ lệ tới 90,0%; nam 61,8%; lứa tuổi 25 - 40 nữ 88,8%; nam 80,0%; lứa tuổi 41 - 60 nữ 37,2%; nam 23,3%. Tỷ lệ người đã từng tẩy trắng răng chỉ có 0,7% ở nam giới và 4,7% ở nữ. Kết luận: tỷ lệ răng nhiễm sắc rất cao, nhu cầu răng trắng sáng lớn. Cần tăng cường giáo dục sức khỏe răng miệng, nha sĩ là hạt nhân đưa ra các phương pháp điều trị thích hợp với từng loại răng nhiễm sắc.

Xem chi tiết

Tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn năm 2007

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Mai Quốc Tùng, Hoàng Linh, Đinh Mạnh Cường, Phạm Trọng Văn

Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tật khúc xạ đặc biệt là cận thị là một trong năm nguyên nhân hàng đầu gây giảm thị lực có thể phòng tránh được. Mục tiêu: Đánh giá thực trạng tình hình tật khúc xạ ở học sinh phổ thông tỉnh Bắc Kạn. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu cắt ngang mô tả học sinh phổ thông từ lớp 1 đến lớp 12 đang học tập và sinh sống ở Tỉnh Bắc Kạn. Cách chọn mẫu ngẫu nghiên, phân tầng theo cấp học và địa dư. Các học sinh thuộc đối tượng nghiên cứu được khám mắt toàn diện. Tật khúc xạ được đo bằng máy đo khúc xạ tu động sau khi tra thuốc liệt điều tiết 30 phút. Kết quả: Đã có 3580 học sinh các cấp được khám, trong đó nam chiếm 40,3%, nữ chiếm 59,7%. Độ khúc xạ cầu tương đương (ĐCTĐ) trung bình là 0,95 ± 0,83D ở học sinh tiểu học (TH), 0,51 ± 0,69D ở học sinh trung học cơ sở (THCS) và 0,08 ± 1,49D ở học sinh trung học phổ thông (THPT). Tỷ lệ cận thị (ĐCTĐ = - 0,5D) ở học sinh TH là 2,4%, ở học sinh THCS là 5,9% và ở học sinh THPT là 17,0%. Có sự khác biệt về ĐCTĐ và tỷ lệ tật khúc xạ giữa học sinh cùng độ tuổi nhưng ở môi trường thành thị so với nông thôn (p < 0,01). Học sinh thành thị có nguy cơ bị cận thị cao hơn ở học sinh nông thôn. Kết luận: Tỷ lệ cận thị ở học sinh Bắc Kạn tương đối thấp so với các tỉnh thành khác trong cả nước. Nguyên nhân giảm thị lực chính là tật khúc xạ đặc biệt là cận thị. Nên có những biện pháp phòng chống cận thị áp dụng ở Tỉnh Bắc Kạn trong khi tỷ lệ tật khúc xạ còn chưa cao.

Xem chi tiết

Tình hình thiếu máu, thiếu năng lượng trường diễn ở nữ công nhân một số nhà máy công nghiệp

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Tú Anh, Nguyễn Xuân Ninh, Nguyễn Thanh Hương, Trần Chính Phương

Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng, thiếu máu, và một số yếu tố liên quan ở công nhân nữ, một số nhà máy công nghiệp tỉnh Vĩnh Phúc, năm 2009. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 1696 công nhân thuộc nhà máy may & giày, độ tuổi 18 - 45 tuổi, được đánh giá tình trạng dinh dưỡng: thiếu năng lượng trường diễn (CED, BMI < 18,5), thiếu máu (Hb < 120g/L), hỏi khẩu phần ăn và phân tích một số yếu tố liên quan giữa thiếu máu, CED, với khâu phần ăn. Kết quả: tỷ lệ công nhân bị CED là 37,7%, thuộc mức cao ve ý nghĩa sức khỏe cộng đồng (YNSKCĐ), tỷ lệ thiếu máu là 21,9%, thuộc mức trung bình về YNSKCĐ, khẩu phần ăn thiếu năng lượng, protein động vật và sắt khẩu phần thấp là những yếu tố nguy cơ liên quan với CED và thiếu máu. Kết luận: Do tỷ lệ thiếu máu, CED ở mức cao về YNSKCĐ và liên quan với khẩu phần ăn thiếu về số lượng và chất lượng. Hoạt động truyền thông về dinh dưỡng, hỗ trợ khẩu phần ăn bổ sung giàu vi chất, uống viên sắt/folic có thể là những biện pháp hiệu quả nhằm nâng cao sức khỏe cho công nhân tại các khu công nghiệp hiện nay.

Xem chi tiết

Tác dụng giảm đau và chống viêm mạn tính của cao lỏng Thân thống trục ứ trên thực nghiệm

Năm xuất bản: 2011

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Thái Hà, Nguyễn Trọng Thông, Nguyễn Nhược Kim, Phạm Thị Vân Anh

Nghiên cứu tác dụng giảm đau và chống viêm mạn tính của cao lỏng Thân thống trục ứ trên thực nghiệm. Mục tiêu: Đánh giá tác dụng giảm đau và chống viêm mạn tính của cao lỏng Thân thống trục ứ trên thực nghiệm. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Thân thống trục ứ được dùng ở liều 28g/kg và 80g/kg trên chuột nhắt trắng để nghiên cứu tác dụng giảm đau và chống viêm mạn trên thực nghiệm. Kết quả cho thấy: cao lỏng Thân thống trục ứ có tác dụng giảm đau trên chuột nhắt ở mô hình gây đau bằng acid acetic. Cao lỏng Thân thống trục ứ liều 28g/kg và 80g/kg có tác dụng chống viêm mạn thể hiện qua tác dụng làm giảm trọng lượng khối u rõ rệt so với lô chứng. Kết luận: Cao lỏng Thân thống trục ứ có tác dụng tác dụng giảm đau ngoại vi và chống viêm mạn trên thực nghiệm.

Xem chi tiết