Phân bố tỷ lệ vô sinh tại các vùng sinh thái việt nam năm 2009

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Viết Tiến, Bạch Huy Anh, Ngô Văn Toàn

Vô sinh là một vấn đề khá phổ biến, mang tính xã hội và cần sự tham gia và phối hợp của toàn xã hội. Mục tiêu: xác định tỷ lệ vô sinh chung, vô sinh nguyên phát và thứ phát trong cả nước cũng như tại các vùng sinh thái và một số yếu tố đặc trưng cá nhân ảnh hưởng đến vô sinh. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 14396 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, tuổi từ 15 - 49, tự nguyện tham gia nghiên cứu tại 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái của cả nước. Thiết kế nghiên cứu mô tả sử dụng kỹ thuật chọn mẫu 60 cụm/ tỉnh và phỏng vấn cặp vợ chồng theo bộ phiếu phỏng vấn đã được chuẩn hoá. Kết quả: tỷ lệ vô sinh chung trên phạm vi toàn quốc là 7,7%, trong đó vô sinh nguyên phát là 3,9% và vô sinh thứ phát là 3,8%. Tỷ lệ vô sinh chung cao nhất là ở tỉnh Khánh Hoà (13,9%) và thấp nhất là ở tỉnh Hải Phòng (3,8%) và Quảng Ninh (3,9%). Những phụ nữ tuổi trên 30, cán bộ và công nhân, có trình độ học vấn trung học cơ sở, dân tộc Kinh, không theo tôn giáo và sống ở nông thôn có nguy cơ vô sinh cao hơn những nhóm phụ nữ khác. Kết luận và kiến nghị: Tỷ lệ vô sinh tại Việt Nam ở mức trung bình và có sự khác biệt giữa các vùng sinh thái. Nghiên cứu đề xuất ngành y tế nói chung và ngành sản phụ khoa cần có những chính sách và kế hoạch để giải quyết tình trạng vô sinh tại Việt Nam.

Xem chi tiết

Tình trạng dinh dưỡng học sinh tiểu học tại các xã miền núi, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Quang Dũng, Nguyễn Lân

Số liệu về tình trạng dinh dưỡng (TTDD) trên học sinh tiểu học tại các vùng kinh tế khó khăn còn hạn chế. Mục tiêu: đánh giá TTDD: nhẹ cân, thấp còi, thừa cân, béo phì của học sinh tiểu học. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 2.128 học sinh (nam/nữ = 52,3%/47,7%) lứa 6 - 10 tuổi tại 5 trường tiểu học các xã miền núi, huyện Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên. Cân nặng, chiều cao, tuổi, giới được thu thập, sử dụng quần thể tham khảo mới của WHO để đánh giá TTDD. Kết quả: tuổi càng cao, mức chênh cân nặng và chiều cao của học sinh so với quần thể tham khảo WHO càng lớn: trẻ trai 6 tuổi nhẹ hơn 4,1 kg và thấp hơn 9,0 cm; trẻ trai 9 tuổi nhẹ hơn 7,0 kg và thấp hơn 10,8 cm. Tương tự, mức chênh cân nặng, chiều cao của trẻ gái so với quần thể tham khảo WHO là 4,4 kg và 8,5 cm (6 tuổi) và 7,3 kg và 9,7 cm (9 tuổi). Trẻ trai 9 tuổi và trẻ gái 10 tuổi có tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) thấp còi cao hơn lứa tuổi khác: 37,2% (trai), 38% (gái). SDD thể nhẹ cân chiếm tỷ lệ cao nhất ở cả trẻ trai và gái lứa 9 tuổi: 44,9% (trai) và 41,9% (gái). Kết luận: ở bậc tiểu học, học sinh lứa 9 - 10 tuổi có nguy cơ SDD thấp còi và nhẹ cân cao hơn so với các nhóm tuổi khác. Can thiệp dinh dưỡng cần được ưu tiên thực hiện để cải thiện TTDD cho nhóm đối tượng này.

Xem chi tiết

Phân tích các yếu tố phơi nhiễm với hoá chất liên quan đến vô sinh tại Việt Nam

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Ngô Văn Toàn, Nguyễn Viết Tiến, Bạch Huy Anh

Vô sinh bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố lý học, hoá học và lối sống. Mục tiêu: phân tích một số yếu tố phơi nhiễm từ môi trường và nghề nghiệp của người phụ nữ và người chồng liên quan đến tỷ lệ vô sinh chung. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: bao gồm 14396 cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ, tuổi từ 15 - 49, tự nguyện tham gia nghiên cứu tại 8 tỉnh đại diện cho 8 vùng sinh thái của cả nước. Thiết kế nghiên cứu mô tả sử dụng kỹ thuật chọn mẫu 60 cụm/tỉnh và phỏng vấn cặp vợ chồng theo bộ phiếu phỏng vấn đã được chuẩn hoá. Kết quả: khi phân tích riêng rẽ các yếu tố tiếp xúc với hoá chất trừ sâu và các loại hoá chất khác, chất phóng xạ, hút thuốc lá, sử dụng ma tuý và uống rượu của người chồng và người vợ thì các yếu tố này có làm tăng nguy cơ vô sinh nhưng chưa khác biệt có ý nghĩa thống kê ảnh hưởng đến tình trạng vô sinh. Khi phân tích phối hợp cả phía vợ và chồng thì các yếu tố phụ nữ uống rượu, người chồng tiếp xúc với hoá chất trừ sâu và các chất hoá học khác và người chồng hút thuốc lá có ảnh hưởng đến tình trạng vô sinh của người phụ nữ. Kết luận và kiến nghị: Các yếu tố như phụ nữ uống rượu, người chồng tiếp xúc với hoá chất trừ sâu và các chất hoá học khác và người chồng hút thuốc lá có ảnh hưởng đến tình trạng vô sinh của người phụ nữ. Vấn đề này cần được nghiên cứu sâu hơn nữa, nhiều hơn nữa để có kết luận cụ thể và đề xuất các giải pháp phòng chống

Xem chi tiết

Bước đầu đánh giá các yếu tố liên quan đến giảm chức năng bàn tay bên liệt ở bệnh nhân tai biến mạch máu não

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Kim Liên, Lê Nguyệt Minh

Mô tả sự suy giảm chức năng bàn tay liệt ở bệnh nhân tai biến mạch máu não và liên quan với các yếu tố (tuổi, giới, tay thuận, loại tổn thương, vị trí và mức độ tổn thương). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 80 bệnh nhân liệt nửa người do tai biến mạch máu não có giảm chức năng bàn tay bên liệt đã được khám, chẩn đoán xác định và điều trị 4 tuần tại Khoa thần kinh và Trung tâm phục hồi chức năng Bệnh viện Bạch Mai, dùng T - test và hệ số tương quan tuyến tính r để xác định mối tương quan giữa các biến với mức vận động bàn tay liệt. Kết quả và kết luận: Tỷ lệ mất hoàn toàn chức năng vận động bàn tay là 38,8%, tỷ lệ mất hoàn toàn chức năng khéo léo bàn tay là 57,5%. Tuổi càng cao chức năng vận động bàn tay càng giảm nhưng mối tương quan yếu (r = - 0,219) với p < 0,05, bước đầu cho thấy có mối tương quan chặt chẽ (r > 0,5) giữa chức năng bàn tay với mức độ tổn thương vùng thái dương đỉnh và thuỳ trán với p < 0,05.

Xem chi tiết

Kết quả cải thiện sức nghe sau phẫu thuật tạo hình xương con bán phần bằng gốm sinh học

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Cao Minh Thành

Đánh giá kết quả cải thiện sức nghe sau phẫu thuật tạo hình xương con bán phần (PORP) bằng gốm sinh học sản xuất trong nước (BIPVIT). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: mô tả từng ca có can thiệp trên 87 bệnh nhân được chẩn đoán xác định và phẫu thuật thay thế xương con bán phần bằng gốm BIPVIT. Chất liệu: trụ dẫn thay thế xương con bằng gốm sinh học BIPVIT, cân cơ thái dương tươi. Kết quả: PTA trước phẫu thuật là 54,91 ± 12,6 dB ở 4 tần số là 0,5, 1, 2 và 3 kHz và sau phẫu thuật là 36,47 ± 12,56 dB. Mức tăng ABG và PTA ở 2 loại thay thế xương con là như nhau, tương ứng là 19,02 & 18,49 dB với 17,67 & 17,42 dB. Kết luận: Mức độ cải thiện sức nghe sau phẫu thuật tạo hình xương con bán phần bằng gốm sinh học cũng gần tương tự như các chất liệu khác.

Xem chi tiết

Biến chứng và kết quả của phẫu thuật nối ống mật chủ - tá tràng trong bệnh lý sỏi đường mật

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Văn Tống

Sỏi mật là một bệnh phổ biến mọi nơi, phẫu thuật nối ống mật chủ - Tá tràng vẫn có vị trí trong xử lý sỏi đường mật cấp cứu. Mục tiêu: (1) đánh giá các biến chứng của phẫu thuật nối ống mật chủ –tá tràng. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Hồi cứu mô tả cắt ngang 64 trường hợp nối ống mật chủ - Tá tràng tại bệnh Viện Đa khoa Trung ương Cần Thơ từ năm 1999 đến 2004. Kết quả và kết luận: Hẹp miệng nối (9,37%), xơ gan (1,56%), áp xe gan đường mật (1,56%), tử vong sau 5 năm 8 trường hợp (9,19%).

Xem chi tiết

Đặc điểm siêu cấu trúc của mảnh ghép gân đồng loại sau xử lý bằng tia gamma

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Trần Trung Dũng, Ngô Duy Thìn, Đào Xuân Tích, Lê Trần Tùng, Phạm Văn Vương, Nguyễn Văn Vận

Nhận xét đặc điểm siêu cấu trúc của mảnh ghép gân đồng loại sau xử lý bằng tia Gamma. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 7 mẫu gân, 6 mẫu được chiếu xạ tia Gamma liều 25 kGrays bảo quản lạnh sâu và 1 mẫu không chiếu xạ, bảo quản lạnh sâu. Đánh giá siêu cấu trúc các mẫu gân bằng kính hiển vi điện tử quét và kính hiển vi điện tử truyền qua với độ phóng đại từ 10000 - 50000 lần. Kết quả: trên kính hiển vi điện tử quét, ở các mẫu gân chiếu xạ gặp hình ảnh tổn thương các sợi collagen nhánh, liên kết các bó với nhau. Trên kính hiển vi điện tử truyền qua, hình ảnh cấu trúc sợi collagen tương tự nhau ở cả mẫu gân chiếu xạ và không chiếu xạ. Kết luận: Chiếu xạ tia Gamma liều 25 kGrays có làm tổn thương cấu trúc sợi collagen nhưng chủ yếu là các sợi nhánh, nối giữa các bó.

Xem chi tiết

Điều trị viêm tụy mạn, sỏi tụy bằng phương pháp kết hợp phẫu thuật frey và phẫu thuật beger

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Phạm Hoàng Hà, Trịnh Hồng Sơn

Phương pháp kết hợp phẫu thuật Frey và phẫu thuật Beger phát huy ưu điểm và hạn chế nhược điểm của mỗi phẫu thuật trong điều trị viêm tụy mạn, sỏi tụy. Mục tiêu: Trình bày kỹ thuật mổ của phương pháp kết hợp phẫu thuật Frey và phẫu thuật Beger và đánh giá kết quả sớm sau mổ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 35 bệnh nhân viêm tụy mạn, sỏi tụy được điều trị theo phương pháp kết hợp phẫu thuật Frey và phẫu thuật Beger từ 3/2008 đến tháng 10/2009. Những khó khăn, thuận lợi trong từng bước mổ và kết quả sớm sau phẫu thuật được nghiên cứu. Kết quả: 68,5% bệnh nhân gặp khó khăn ở bước bộc lộ tụy, 65,7% bệnh nhân gặp khó khăn khi cắt nhu mô đầu tụy và 40% bệnh nhân khó tìm ống mật chủ trong tụy. Không có tử vong trong và sau mổ, tỷ lệ biến chứng sau mổ 20%. Kết luận: Phương pháp kết hợp phẫu thuật Frey và phẫu thuật Beger gồm 6 bước, khó khăn nhất là bộc lộ tụy, cắt nhu mô đầu tụy và tìm ống mật chủ trong tụy. Tỷ lệ tử vong và biến chứng sau mổ tương tự như các phẫu thuật điều trị viêm tụy mạn khác .

Xem chi tiết

Đánh giá tác dụng hỗ trợ giảm đau của viên cốt thoái vương trong điều trị đau thần kinh toạ

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Đỗ Thị Phương, Lại Thanh Hiền, Nguyễn Thị Thanh Tú, Phạm Tùng Sơn

Đánh giá tác dụng hỗ trợ giảm đau trên lâm sàng và tính an toàn của viên Cốt thoái vương trong hố trợ điều trị đau thần kinh toạ (TKT). Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: thử nghiệm lâm sàng có đối chứng; 64 bệnh nhân đau TKT chia làm hai nhóm: nhóm nghiên cứu và nhóm chứng. Kết quả: viên Cốt thoái vương có tác dụng hỗ trợ giảm đau trong điều trị đau dây TKT: Sau điều trị mức độ đau theo thang điểm VAS ở nhóm nghiên cứu giảm từ 6,38 ± 1,41 xuống 2,09 ± 1,57; nhóm chứng từ 6,53 ± 1,09 xuống 3,52 ± 1,58; Kết quả chung cho thấy tỷ lệ tốt và khá của nhóm nghiên cứu (84,9%) cao hơn nhóm chứng (65,7%). Viên Cốt thoái vương không có tác dụng không mong muốn trên lâm sàng và một số chỉ tiêu cận lâm sàng. Kết luận: Viên Cốt thoái vương có tác dụng hỗ trợ giảm đau trong điều trị đau TKT trên lâm sàng và chưa gây tác dụng không mong muốn trong 21 ngày điều trị

Xem chi tiết

Nồng độ cortisol, cortison trong sữa và nước bọt ở phụ nữ nuôi con nhỏ

Năm xuất bản: 2010

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Ngọc Hùng

Khảo sát một số hóc môn thuộc nhóm steroids ở phụ nữ nuôi con nhỏ với mục tiêu: (1) Phân tích cortisol, cortisone trong sữa và nước bọt của phụ nữ trong thời kỳ cho con bú; (2) Xác định mối tương quan giữa cortisol, corticone và tỷ lệ cortisol /cortisone trong sữa và nước bọt của các bà mẹ. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: 60 bà mẹ tuổi từ 20 - 40 có con nhỏ 6 - 10 tháng tuổi: mỗi bà mẹ được lấy 2 ml sữa và 2ml nước bọt và được bảo quản lạnh để định lượng hormon bằng sắc ký lỏng khối phổ cao áp tại Labo ASKA Pharma Medical Co. Ltd – Nhật Bản. Kết quả: hàm lượng hormone trong nước bọt và sữa mẹ (n = 60): Trong nước bọt: Cortisol: ; C o r t i s o n : ; Trong sữa mẹ: Cortisol: ; Cortison: . Mối tương quan cortisol trong nước bọt và sữa mẹ với r = 0,88 (rất chặt chẽ) và cortison là r = 0,46 (chặt chẽ). Mối liên quan chặt chẽ giữa tỷ lệ giữa cortisol và cortisone trong nước bọt và trong sữa mẹ (r = 0,53). X ± SD = 2853,5 ± 2297 X ± SD = 13961± 7176 ± SD = 3487 ± 3529 X ± SD = 8673 ± 2988

Xem chi tiết