Sức sống của vạt đùi trước ngoài cuống mạch liền trong tái tạo dương vật do ung thư

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Cao Kiêm, Nguyễn Bắc Hùng

Nghiên cứu nhằm đánh giá sức sống của vạt đùi trước ngoài cuống mạch liền trong tái tạo dương vật và tim hiểu các yếu tố nguy cơ gây hoại tử vạt. Nghiên cứu can thiệp không đối chứng trên 28 bệnh nhân bị khuyết dương vật vì ung thư được phẫu thuật tái tạo bằng vạt đùi trước ngoài cuống mạch liền. Kết quả cho thấy vạt sống toàn bộ 19/28 (67,9%), hoại tử một phần 7/28 (25,0%), hoại tử hoàn toàn 2/28 (7,1%). Sức sống của vạt bị ảnh hưởng đồng thời của các yếu tố chất lượng mạch xuyên, làm mỏng vạt, phù nề sau phẫu thuật. Sức sống của vạt đùi trước ngoài cuống mạch liền đáng tin cậy để tạo hình dương vật.

Xem chi tiết

Đánh giá kết quả dẫn lưu tràn máu, tràn khí khoang màng phổi trong bệnh cảnh đa chấn thương tại bệnh viện đa khoa Trung Ương Thái Nguyên, giai đoạn 2010 đến 2014

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Âu Văn Thảo, Lô Quang Nhật

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị tràn máu, tràn khí khoang màng phổi trong bệnh cảnh đa chấn thương. Đối tượng gồm 82 bệnh nhân có tràn máu khoang màng phổi, tràn khí khoang màng phổi hay cả tràn máu - tràn khí khoang màng phổi, ở một hoặc cả hai bên phổi trong bệnh cảnh đa chấn thương được điều trị tại bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên trong thời gian 4 năm từ tháng 3/2010 đến 3/2014. Kết quả cho thấy tuổi trung bình là 39,4 ± 1,5 tuổi; tỷ lệ nam/nữ: 9,2/1. Nguyên nhân tai nạn giao thông có 44 bệnh nhân chiếm 53,7%, tai nạn sinh hoạt chiếm 26,8%; các trường hợp đến viện có tình trạng sốc (65,9%); dẫn lưu khoang màng phổi tối thiểu một bên chiếm 98,8%, dẫn lưu khoang màng phổi tối thiểu 2 bên là 1,2%. Mở ngực sau dẫn lưu 4 trường hợp (4,9%). Kết quả tốt đạt 78%, trung bình đạt 17,1%, kém đạt 4,9%. Dẫn lưu khoang màng phổi tối thiểu là phẫu thuật chủ yếu để điều trị tràn máu, tràn khí khoang màng phổi trong bệnh cảnh đa chấn thương.

Xem chi tiết

Tạo van chống trào ngược niệu quản - bàng quang kiểu thành ngoài thanh co trong theo phương pháp tạo hình bàng quang abol - enein

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Trần Chí Thanh

Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả tạo kỹ thuật van chống trào ngược niệu quản - bàng quang kiểu thành ngoài thanh cơ trong tạo hình bàng quanh theo phương pháp Abol - Enein tại bệnh viện Việt Đức. Nghiên cứu mô tả tiến cứu trên 35 bệnh nhân (31 nam, 4 nữ) được tạo hình bàng quang theo phương pháp Abol – Enein. Chỉ tiêu nghiên cứu bao gồm: thời gian mổ, biến chứng trong và sau mổ, trào ngược bàng quang – niệu quản, hẹp miệng nối bàng quang niệu quản. Kết quả cho thấy tỷ lệ hẹp miệng nối bàng quang niệu quản 1,4% đơn vị miệng nối. 2,85% theo dõi hẹp, không có trường hợp nào trào ngược.Tỷ lệ giữ nước tiểu chủ động ban ngày 88,6%, ban đêm 82,9%. Phương pháp cắm niệu quản bàng quang chống trào ngược theo dạng van thành ngoài thanh cơ an toàn và hiệu quả.

Xem chi tiết

Thực trạng hoạt động thể lực của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội năm 2013

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Vũ Thị Thanh Huyền, Nguyễn Hồng Trang

Nghiên cứu nhằm đánh giá thực trạng hoạt động thể lực của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Trường Yên, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, năm 2013. Kết quả cho thấy tuổi trung bình 68 ± 1,13; 33% hoạt động tích cực, 27,2% hoạt động trung bình và 39,8% hoạt động thấp. Nữ giới đi bộ nhiều hơn so với nam giới. 59,5% nữ và 40,5% nam không sử dụng xe đạp trong tuần. Tỷ lệ hoạt động trung bình ở các ngày ở nữ đều có xu hướng cao hơn nam giới (60,0% nữ và 40,0% nam có hoạt động từ 1 - 3 ngày 53,7% nữ và 46,3% nam có hoạt động từ 4 - 7 ngày). Phụ nữ có thời gian ngồi/nằm nhiều hơn nam giới (52,7% và 62,5% so với 47,3% và 37,5% tại mốc thời gian là 1 - 3h và 4 - 7h trong tuần). Kết quả nghiên cứu đã cho thấy thực trạng hoạt động thể lực của bệnh nhân tăng huyết áp tại xã Trường Yên, Chương Mỹ, Hà Nội tạo tiền đề cho truyền thông về luyện tập thể lực cho các bệnh nhân tăng huyết áp đang điều trị và theo dõi tại trạm y tế xã.

Xem chi tiết

Điều trị rối loạn bề mặt nhãn cầu nặng hai mắt bằng ghép tấm biểu mô niêm mạc miệng nuôi cấy

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Thị Thu Thủy, Nguyễn Thị Bình, Hoàng Thị Minh Châu

Rối loạn nặng bề mặt nhãn cầu 2 mắt do suy giảm toàn bộ tế bào gốc vùng rìa là một thách thức trong nhãn khoa do điều trị và tiên lượng còn rất khó khăn. Sử dụng tấm biểu mô niêm mạc miệng nuôi cấy thay thế biểu mô giác mạc là giải pháp mới đã áp dụng thành công trên thế giới, đem lại nhiều hứa hẹn trong điều trị bệnh lý này. Nghiên cứu nhằm đánh giá kết quả ghép tấm biểu mô niêm mạc miệng nuôi cấy trên thỏ thực nghiệm và ứng dụng điều trị cho một số bệnh nhân có rối loạn nặng bề mặt nhãn cầu 2 mắt. Trên thực nghiệm, nuôi cấy và ghép tự thân thành công tấm biểu mô niêm mạc miệng cho 15 thỏ, 14 thỏ kết quả tốt, 1 thỏ kết quả khá. Trên lâm sàng, nuôi cấy và ghép tự thân cho 20 ca rối loạn bề mặt nhãn cầu 2 mắt, trong đó 3 ca phẫu thuật 2 lần, có 14 ca thành công, 2 ca tấm biểu mô bị tiêu hủy do tổn thương ngấm sâu vào nội nhãn, 4 ca tân mạch xâm lấn tới trung tâm giác mạc. Ghép tấm biểu mô niêm mạc miệng nuôi cấy là phương pháp an toàn, hiệu quả trong kiến tạo bề mặt nhãn cầu.

Xem chi tiết

Dị ứng blomia tropicalis và viêm mui dị ứng ở quận hoàn kiếm và huyện Ba Vì

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Hoàng Thị Lâm, Nguyễn Văn Tường

Mục tiêu của nghiên cứu là xác định mối liên quan giữa dị ứng Blomia tropicalis và viêm mũi dị ứng ở quận Hoàn Kiếm và huyện Ba Vì. Nghiên cứu được tiến hành trên 533 đối tượng, từ 23 - 72 tuổi. Phỏng vấn bộ câu hỏi và test lẩy da với Blomia tropicalis được thực hiện với tất cả các đối tượng. Dị ứng Blomia tropicalis xảy ra chủ yếu ở nam giới (27,7%; 18,7%) và người trẻ ≤ 45 tuổi (27,3%; 19,1%). Không có sự khác biệt về dị ứng Blomia tropicalis giữa quận Hoàn Kiếm và huyện Ba Vì. Tắc ngạt mũi (17,4%; 7,0%), triệu chứng viêm mũi dị ứng 12 tháng qua (27,0%; 17,4%), tình trạng viêm mũi dị ứng (30,3%; 20,7%) và viêm mũi dị ứng ngắt quãng (11,5%; 5,4%) gặp nhiều hơn ở những đối tượng dị ứng Blomia tropicalis so với những người không dị ứng. Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p < 0,05. Tuổi trẻ ≤ 45 tuổi là yếu tố nguy cơ của dị ứng Blomia tropicalis. Kết luận: Dị ứng Blomia tropicalis liên quan chặt chẽ với viêm mũi dị ứng ở hai địa bàn quận Hoàn Kiếm và huyện Ba Vì.

Xem chi tiết

Nghiên cứu đặc điểm hình ảnh và kết quả điều trị phình động mạch não phức tạp bằng đặt stent đổi hướng dòng chảy

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Vũ Đăng Lưu, Đinh Trung Thành

Nghiên cứu nhằm mô tả đặc điểm hình ảnh và đánh giá kết quả điều trị phình động mạch não phức tạp bằng đặt stent pipeline đổi hướng dòng chảy. 37 bệnh nhân có 38 phình động mạch não phức tạp được chẩn đoán và điều trị đặt stent pipeline tại bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2012 đến tháng 8/2014. Đặc điểm hình ảnh phình động mạch não phức tạp được mô tả trên ảnh chụp mạch số hóa xóa nền (DSA). Kết quả tắc phình động mạch não phức tạp được đánh giá trên ảnh chụp mạch số hóa xóa nền và cộng hưởng từ. Đánh giá lâm sàng theo phân độ Rankin cải tiến. Kết quả cho thấy, tỷ lệ gặp phình cổ rộng chiếm 57,89%, phình khổng lồ (> 25mm) chiếm 13,16%, phình hình thoi chiếm 10,53%, phình tái thông lớn chiếm 10,53%, phình dạng bọng nước chiếm 7,89%. Đặt stent đổi hướng dòng chảy thành công đạt 97,4%. Theo dõi trên cộng hưởng từ và ảnh chụp mạch số hóa xóa nền thấy tỷ lệ tắc hoàn toàn ngay sau can thiệp chiếm 5,3%, sau 3 - 6 tháng là 85,7% sau 12 tháng là 90,3%.Tỷ lệ bệnh nhân hoàn toàn bình thường (mRS 0 - 1) sau can thiệp chiếm 91,9%. Kết luận: stent đổi hướng dòng chảy là phương pháp hiệu quả trong điều trị các phình động mạch não phức tạp.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng của điều trị tiêu huyết khối alteplase đường tinh mạch đến các kết quả mạch máu và lâm sàng ở bệnh nhân tắc động mạch não giữa

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Mai Duy Tôn, Đinh Mạnh Phương, Nguyễn Đạt Anh

Nghiên cứu thực hiện trên 62 bệnh nhân nhồi máu não do tắc động mạch não giữa được điều trị thuốc tiêu huyết khối alteplase đường tĩnh mạch trong cửa sổ 270 phút tại Khoa Cấp cứu - bệnh viện Bạch Mai từ tháng 12/2009 đến tháng 7/2013 nhằm đánh giá hiệu quả về hình ảnh mạch máu não và mối liên quan đến mức độ hồi phục lâm sàng sau 3 tháng và biến chứng chảy máu nội sọ sau 24 giờ. Mức độ tái thông mạch não đạt tỷ lệ 61,3%; nhóm tái thông mạch, mức độ hồi phục lâm sàng sau 3 tháng cao gấp 21 lần so với nhóm không có tái thông mạch (p < 0,001). Chảy máu nội sọ sau 24 giờ ở nhóm có tái thông mạch cao hơn nhóm không có tái thông mạch (p < 0,05). Chảy máu nội sọ có triệu chứng chỉ 1,61%. Mức độ hồi phục lâm sàng tốt sau 3 tháng đạt tỷ lệ 43,5%. Kết quả này cho thấy điều trị thuốc tiêu huyết khối alteplase đường tĩnh mạch ở bệnh nhân nhồi máu não do tắc động mạch não giữa trong vòng 4,5 giờ an toàn và có hiệu quả.

Xem chi tiết

Ảnh hưởng của gabapentin trước mổ lên kiểm soát đau sau mổ thay khớp háng toàn bộ

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Nguyễn Toàn Thắng, Nguyễn Đăng Xứng, Nguyễn Quốc Anh

Nghiên cứu ngẫu nhiên, mù đôi có đối chứng nhằm đánh giá ảnh hưởng của uống gabapentin trước mổ lên kiểm soát đau sau mổ thay khớp háng. Bệnh nhân được chia ngẫu nhiên vào hai nhóm theo thuốc dùng trước mổ: nhóm I (n = 30, placebo) và nhóm II (n = 30, 600 mg gabapentin). Sau mổ giảm đau PCA morphin được dùng ở cả hai nhóm. Các đặc điểm bệnh nhân, gây mê, phẫu thuật, điểm đau sau mổ, tiêu thụ morphin và các tác dụng không mong muốn được ghi nhận trong 48 giờ. Kết quả không có khác biệt ý nghĩa về các đặc điểm liên quan đến bệnh nhân, gây mê và phẫu thuật. Điểm VAS trung bình khi nghỉ ở nhóm II thấp hơn so với nhóm I (p < 0,05) trong ngày đầu. Điểm VAS khi vận động tương đương nhau giữa hai nhóm (p > 0,05). Thời gian đến khi yêu cầu liều giảm đau đầu tiên, tiêu thụ morphin trong 24 và 48 giờ đầu ở nhóm I và II tương ứng là; 176,3 ± 29,0; 194,6 ± 22,5 phút (p < 0,05), 28,2 ± 10,6; 34,5 ± 12,6 mg (p < 0,05) và 67,7 ± 21,3; 58,6 ± 22,5 mg (p > 0,05). Tỷ lệ các tác dụng không mong muốn tương đương nhau giữa hai nhóm. Kết luận; 600 mg gabapentin trước mổ làm giảm điểm đau khi nghỉ và tiêu thụ morphin trong 24 giờ đầu trong khi không làm thay đổi tỷ lệ các tác dụng không mong muốn của morphin sau mổ.

Xem chi tiết

Hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài trong vòng 12 giờ sau triệu chứng khởi phát chảy máu não thất có giãn não thất cấp

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Lương Quốc Chính, Mai Duy Tôn, Nguyễn Đạt Anh, Nguyễn Văn Liệu

Nghiên cứu được thực hiện trên 42 bệnh nhân giãn não thất cấp do chảy máu não thất tại khoa Cấp cứu - bệnh viện Bạch Mai từ tháng 8/2011 đến 8/2014 nhằm đánh giá hiệu quả dẫn lưu não thất ra ngoài trước 12 giờ sau triệu chứng khởi phát. Bệnh nhân được chia 2 nhóm: dẫn lưu não thất trước (nhóm 1, n = 26) và sau (nhóm 2, n = 16) 12 giờ sau triệu chứng khởi phát. Kết quả tốt (khi GCS > 12 điểm và mRS ≥ 3) ở nhóm 1 (61,5% và 42,3%) cao hơn nhóm 2 (31,2% và 0%), với p < 0,05. Không thấy sự khác biệt về các biến chứng sau dẫn lưu não thất bao gồm tắc dẫn lưu não thất (7,7% so với 18,8%, p > 0,05), chảy máu não xung quanh dẫn lưu (7,7% so với 18,8%, p > 0,05) và viêm não thất (3,8% so với 12,5%, p > 0,05), và tỷ lệ tử vong (3,8% so với 12,5%, p > 0,05) giữa hai nhóm. Kết quả này cho thấy dẫn lưu não thất ra ngoài trước 12 giờ sau triệu chứng khởi phát không làm thay đổi tỷ lệ các biến chứng và tử vong, nhưng có liên quan tới cải thiện kết quả ngắn hạn (GCS và mRS cải thiện).

Xem chi tiết