Giá trị của chỉ số albumin/creatinin nước tiểu trong theo dõi biến chứng cầu thận ở bệnh nhân đái tháo đường

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hà Thị Hồng Cẩm, Vũ Thị Thanh Huyền

Nghiên cứu nhằm đánh giá giá trị của chỉ số albumin/creatinin (ACR) nước tiểu trong theo dõi biến chứng thận ở bệnh nhân đái tháo đường. Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên các bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được chẩn đoán theo tiêu chuẩn của Hiệp hội Đái tháo đường Hoa Kỳ 2012. 177 bệnh nhân đái tháo đường typ 2 được xét nghiệm chỉ số ACR nước tiểu để đánh giá mối liên quan với một số chỉ số sinh hóa. Kết quả cho thấy ACR có liên quan thuận với tăng glucose máu lúc đói, (OR: 1,2, 95%CI: 1,1 - 3,9) và HbA1c (OR: 2,7, 95%CI: 1,4 - 5,2). Không có mối liên quan giữa ACR nước tiểu ngẫu nhiên với Cholesterol toàn phần, Triglycerid và LDL - Cholesterol ở đối tượng nghiên cứu (p > 0,05). Nồng độ ACR nước tiểu ngẫu nhiên ở các đối tượng nghiên cứu có mối tương quan nghịch với mức lọc cầu thận (p < 0,001). Có mối liên quan giữa giá trị creatinin máu trung bình và ACR nước tiểu ngẫu nhiên (p < 0,05). Không có mối liên quan giữa ACR nước tiểu ngẫu nhiên với tuổi, giới và thời gian mắc bệnh (p > 0,05). Chỉ số albumin/creatinin là xét nghiệm đáng tin cậy để theo dõi và tầm soát biến chứng cầu thận ở bệnh nhân đái tháo đường.

Xem chi tiết

Tỷ lệ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người truởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Hoàng Đạo Bảo Trâm, Trần Ngọc Phương Thảo

Nhạy cảm ngà là tình trạng phổ biến và xuất hiện ngày càng nhiều ở lứa tuổi trẻ. Nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành trên 871 người từ 18 đến 79 tuổi, nhằm xác định tỷ lệ, mức độ và phân bố nhạy cảm ngà răng ở người trưởng thành tại thành phố Hồ Chí Minh. Khám lâm sàng và chẩn đoán nhạy cảm ngà răng bằng kích thích cọ xát (50g) và kích thích thổi hơi (40 - 65p.s.i, 22 ± 20C), đánh giá theo thang điểm 0 - 3. Kết quả cho thấy 85,8% người có răng nhạy cảm với ít nhất một trong hai kích thích, trong đó, 47,4% nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình; khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nhóm tuổi (p < 0,001) và giữa các nhóm nghề nghiệp (p < 0,05), không có khác biệt có ý nghĩa khi xét theo giới hoặc theo khu vực nội và ngoại thành. Số răng nhạy cảm ngà trung bình tăng theo tuổi. Tỷ lệ nhạy cảm ngà ở từng răng thay đổi từ 10% đến 61%, cao nhất ở vùng răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên, thấp nhất ở vùng răng cửa và răng cối lớn thứ hai hàm trên. Nhạy cảm ngà răng là một tình trạng phổ biến tại thành phố Hồ Chí Minh, gần một nửa người trưởng thành có nhạy cảm ngà ở mức độ trung bình. Tỷ lệ nhạy cảm ngà cao nhất ở lứa tuổi 40 - 49. Răng thường nhạy cảm ngà nhất là răng cối nhỏ và răng cối lớn thứ nhất hàm dưới và hàm trên.

Xem chi tiết

Hiệu quả giảm đau sau mổ và tác dụng không mong muốn của hai liều morphin tủy sống trong phẫu thuật thay khớp háng

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Nguyễn Quốc Anh, Nguyễn Toàn Thắng, Tiêu Tiến Quân

Nghiên cứu tiến cứu, ngẫu nhiên, mù đôi nhằm mục tiêu so sánh hiệu quả giảm đau sau mổ và tác dụng không mong muốn của hai liều morphin tủy sống 0,1 mg và 0,2 mg trong phẫu thuật thay khớp háng toàn bộ. Bệnh nhân được chia làm hai nhóm (nhóm I; n = 30, 0,1 mg morphin và nhóm II; n = 30, 0,2 mg morphin). Kết quả không có khác biệt về các đặc điểm liên quan đến bệnh nhân, gây mê và phẫu thuật giữa hai nhóm. Thời gian giảm đau sau mổ, tiêu thụ paracetamol trong 48 giờ đầu ở nhóm I và II tương ứng là: 18,52 ± 3,14 và 23,86 ± 3,4 giờ (p < 0,05), 7,57 ± 0,57 và 4,73 ± 0,45 gam (p > 0,05). Điểm VAS trung bình khi nằm yên và vận động tại các thời điểm sau mổ đều dưới 4. Tỷ lệ buồn nôn và nôn, ngứa và bí đái ở nhóm I và II tương ứng là 13,3% & 43,3%, 10% & 20% (p < 0,05), 16,8% & 26,7 % và 23,3% và 30% (p > 0,05). Không có khác biệt về mức an thần và thỏa mãn với giảm đau, không gặp ức chế hô hấp ở hai nhóm. Kết luận: liều 0,2 mg có thời gian giảm đau sau mổ dài hơn, tuy nhiên tỉ lệ nôn và buồn nôn sau mổ cao hơn so với liều 0,1 mg.

Xem chi tiết

Tính đa hình t6235c của gen cyp1a1 và nguy cơ với bệnh ung thư phổi

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Lê Hồng Công, Trần Vân Khánh, Lê Hoàng Bích Nga, Nguyễn Trọng Tuệ, Nguyễn Đức Hinh, Tạ Thành Văn, Trần Huy Thịnh

Tính đa hình T6235C gen CYP1A1 là yếu tố nguy cơ cao gây ung thư phổi trên các đối tượng người Châu Á. Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tính đa hình T6235C của gen CYP1A1 ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi so với nhóm đối chứng. 139 mẫu bệnh nhân ung thư phổi và 100 người không mắc bệnh ung thư được lựa chọn vào nghiên cứu. Kỹ thuật PCR - RFLP (PCR - Restriction fragment length polymorphism) được lựa chọn để xác định tính đa hình T6235C. Kết quả cho thấy, tần số alen T và C ở nhóm bệnh nhân ung thư phổi là 75% và 25%, có sự khác biệt so với tần số alen T và C của nhóm đối chứng là 84% và 16%, với p < 0,05; tần số genotype T/T và T/C - C/C ở nhóm ung thư phổi là 0,288 và 0,712, khác biệt có ý nghĩa thống kê so với nhóm chứng là 0,36 và 0,64, với p < 0,05. Kết luận cho thấy bước đầu thấy được sự tương quan giữa đa hình thái T6235C của gen CYP1A1 với nguy cơ ung thư phổi ở người Việt Nam.

Xem chi tiết

Tính đa hình thái đơn nucleotid 309 gen mdm2 và nguy cơ ung thư tế bào gan nguyên phát ở Việt Nam

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 2

Tác giả: Trịnh Quốc Đạt, Phạm Lê Anh Tuấn, Nguyễn Thị Vân Hồng, Nguyễn Đức Hinh, Trần Vân Khánh, Tạ Thành Văn, Trần Huy Thịnh

MDM2 là gen điều hòa ngược âm tính của gen ức chế khối u p53. Sự tăng cường biểu hiện của MDM2 sẽ ức chế sao chép, phiên mã, cũng như hoạt động chức năng của gen p53. Đa hình thái đơn của gen MDM2 tại vị trí SNP309, rs2279744 (MDM2 - SNP309), với sự biến đổi từ T thành G trên intron 1 tăng cường biểu hiện MDM2 và đã được chứng minh có sự liên quan đến nguy cơ phát triển một số loại hình ung thư. Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mục tiêu đánh giá nguy cơ mắc ung thư tế bào gan nguyên phát liên quan đến kiểu gen MDM2 - SNP309 trên 167 bệnh nhân ung thư gan và 81 mẫu đối chứng Việt Nam. Kết quả cho thấy: kiểu gen G/G có nguy cơ mắc bệnh cao hơn kiểu gen T/T (OR = 1,97; 95%, Cl = 0,92 - 4,21); sự khác biệt về độ tuổi mắc ung thư gan của kiểu gen G/G sớm hơn 8,83 năm (p = 0,03; 95%) so với kiểu gen T/T.

Xem chi tiết

Ca lâm sàng nhiễm virus bk ở bệnh nhân sau ghép thận

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Hà Phan Hải An, Nguyễn Thế Cường, Nguyễn Mạnh Tưởng, Nguyễn Sỹ Lánh

Bệnh lý thận ghép do nhiễm virus BK là một trong những nguyên nhân chính gây mất chức năng thận ghép ở bệnh nhân ghép thận. Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào hình ảnh mô bệnh học thận của tiêu bản sinh thiết. Tuy nhiên việc chẩn đoán đôi khi có thể gặp khó khăn do hình ảnh bệnh học của bệnh thận do virus BK có những đặc điểm tương tự như thải ghép cấp qua trung gian tế bào. Chúng tôi thông báo ca lâm sàng nhằm minh họa thêm một lần nữa những khó khăn trong chẩn đoán bênh thận do virus BK. Do các lựa chọn điều trị bệnh thận do virus BK ở Việt Nam còn hạn chế, tình trạng bệnh lý này cần được phát hiện kịp thời để có sự điều chỉnh phù hợp việc sử dụng thuốc ức chế miễn dịch. Vai trò của sự phối kết hợp chặt chẽ giữa bác sỹ lâm sàng và chuyên gia mô bệnh học là điều kiện then chốt để đảm bảo chẩn đoán và lựa chọn điều trị chính xác.Một số khuyến cáo cơ bản về chẩn đoán và điều trị cũng được đề cập.

Xem chi tiết

Thời gian sống thêm bệnh nhân ung thư vú có điều trị nội tiết bổ trợ bằng nội khoa tại bệnh viện K trong giai đoạn 2006 - 2012

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Vũ Hồng Thăng

Đánh giá về kết quả điều trị nội tiết bổ trợ bằng Goserelin kết hợp tamoxifen trên bệnh nhân ung thư vú thể xâm lấn giai đoạn I-IIIa dưới 40 tuổi. Nghiên cứu hồi cứu dựa trên 71 phụ nữ trẻ tuổi bị ung thư vú thể xâm lấn, có thụ thể nội tiết dương tính, điều trị bổ trợ bằng tiêm Goserelin trong 2 năm kết hợp với tamoxifen và theo dõi dọc. Kết quả cho thấy 100% bệnh nhân mất kinh sau 1 lần tiêm zoladex, có kinh trở lại sau 7 tháng sau khi ngừng tiêm. Tỷ lệ tái phát/di căn trong 5 năm đầu là 14,1%. Tỷ lệ sống thêm không tái phát sau 2 năm, 5 năm lần lượt là 98,6%, 85,9%. Sống thêm sau 5 năm nhóm không di căn hạch là 95,1% so với 73,3% ở nhóm có di căn hạch. Nếu bệnh nhân có PR(+) thì tiên lượng tốt hơn, tỷ lệ sống thêm không tái phát 89,2% nhóm PR(+) so với 50% nhóm PR(-). Bệnh nhân có HER2(+) có tiên lượng xấu hơn bệnh nhân có HER(-), tỷ lệ sống có tái phát thấp hơn, 70% so với 93,5%.

Xem chi tiết

Hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa bằng phương pháp vật lý trị liệu - phục hồi chức năng kết hợp xoa bóp bấm huyệt

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Đinh Đăng Tuệ, Lê Thành Xuân, Phạm Văn Minh

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá hiệu quả điều trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm bằng phương pháp vật lý trị liệu - phục hồi chức năng kết hợp xoa bóp bấm huyệt, được tiến hành trên 60 bệnh nhân được chẩn đoán là đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, chia làm 2 nhóm với phương pháp nghiên cứu can thiệp lâm sàng có đối chứng so sánh trước sau điều trị. Kết quả cho thấy sau 30 ngày điều trị, các chỉ tiêu quan sát như chỉ số VAS, góc độ Lasègue, độ giãn cột sống thắt lưng,chức năng sinh hoạt hàng ngày đều có sự cải thiện có ý nghĩa thống kê, (p < 0,05). Khi kết hợp vật lý trị liệu - phục hồi chức năng với xoa bóp sẽ đem lại hiệu quả điều trị bệnh tốt hơn cho bệnh nhân.

Xem chi tiết

Hiệu quả điều trị của phương pháp cận tam châm trên bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não sau giai đoạn cấp

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Phạm Thị Ánh Tuyết, Trần Quang Minh, Phạm Thắng

Nghiên cứu được thực hiện nhằm đánh giá tác dụng phục hồi chức năng vận động và tính an toàn của phương pháp điện châm theo công thức huyệt Cận tam châm trên bệnh nhân liệt nửa người do nhồi máu não sau giai đoạn cấp. Kết quả sau 30 ngày điều trị cho thấy điểm trung bình Orgogozo và Barthel tăng lên lần lượt là 29,71 ± 9,77; 34,71 ± 10,49 cao hơn so với nhóm chứng (p < 0,05). Kết quả điều trị cho thấy: 17,1% phục hồi tốt, 48,6% khá, 34,3% trung bình. 35 bệnh nhân nhóm nghiên cứu không ghi nhận trường hợp nào có tác dụng không mong muốn. Điện châm theo công thức huyệt Cận tam châm có tác dụng phục hồi chức năng vận động tốt ở bệnh nhân nhồi máu não sau giai đoạn cấp và an toàn trong 4 tuần điều trị.

Xem chi tiết

Hiệu quả của điện châm trong điều trị bệnh zona

Năm xuất bản: 2015

Số xuất bản: 1

Tác giả: Vũ Ngọc Vương, Nguyễn Nhược Kim

Herpes zoster, được gọi là bệnh zona, là một bệnh da do virus, đặc trưng bởi tổn thương da gây đau đớn thường ở một bên của cơ thể. Điện châm có tác dụng giảm đau và chống viêm. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả điều trị của điện châm trên bệnh nhân Zona. 75 bệnh nhân được chia thành hai nhóm (nhóm 1 gồm 37 bệnh nhân được điều trị bằng điện châm, và 38 bệnh nhân trong nhóm 2 được điều trị bằng Acyclovir). Kết quả cho thấy 54,06% của nhóm 1 là tốt; 32,43% khá và 13,51% trung bình. Hiệu quả giảm đau giảm từ 6,67 ± 1,30 điểm xuống 1,27 ± 1,42 điểm. Thời gian lành tổn thương da là 8,57 ± 3,58 ngày. Trong khi đó, các kết quả của nhóm 2 là 57,78% tốt, 30,55% khá và 16,67% trung bình. Hiệu quả giảm đau giảm từ 6,54 ± 1,32 điểm xuống 1,31 ± 1,68 điểm. Thời gian lành tổn thương da là 8,36 ± 3,90 ngày. Dựa trên nghiên cứu này, chúng tôi có thể kết luận rằng điện châm có tác dụng điều trị hiệu quả bệnh Zona.

Xem chi tiết