Phát hiện virus viêm gan b trong huyết thanh người cho máu bằng kỹ thuật pcr

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Văn Đình Hoa, Võ Văn Huy

Sàng lọc máu, các sản phẩm máu tốt là góp phần hạ thấp tỷ lệ các bệnh lây nhiễm qua đường máu: HIV, HBV, HCV... ở nhiều nước tiên tiến, các kỹ thuật sinh học phân tử đã trở thành xét nghiệm sàng lọc thường quy đối với các cơ sở sử dụng máu và các sản phẩm máu. Với kỹ thuật PCR, chúng tôi phát hiện được 1 trong số 73 trường hợp (HBsAg(-)) đến khám sức khoẻ cho máu tại Viện Huyết học Truyền máu TW có DNA HBV(+). Số lượng còn ít nhưng phần nào nói lên giá trị của kỹ thuật PCR - một công cụ góp phần nâng cao sự an toàn truyền máu.

Xem chi tiết

APOLIPOPROTEIN A1 VÀ APOLIPOPROTEIN B HUYẾT THANH Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI BỊ TAI BIẾN MẠCH MÁU NÃO

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 4

Tác giả: Đỗ Thị Khánh Hỷ

ApolipoproteinA1 (ApoA1) và ApolipoproteinB (APoB) là những yếu tố thay đổi rõ rệt hơn các thành phần lipid huyết thanh khác ở bệnh nhân tai biến mạch máu não. Mục tiêu: xác định hàm lượng ApolipoproteinA1, ApolipoproteinB và các thông số lipid huyết thanh khác ở nhóm bệnh nhân cao tuổi (> 60 tuổi) bị TBMMN. Đối tượng nghiên cứu: nhóm chứng: 40 người khoẻ mạnh; nhóm TBMMN: 40 bệnh nhân được chẩn đoán xác định TBMMN bằng chụp lớp cắt điện toán. Phương pháp nghiên cứu: mô tả cắt ngang, cả 2 nhóm được làm: cholesterol toàn phần, triglycerid, HDL - C, LDL – C, Apo A1, Apo B. Kết quả: không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê của các thông số lipid huyết thanh như Cho.TP; TG; HDL - C; LDL - C; tỷ số Cho.TP/HDL - C giữa nhóm chứng và nhóm TBMMN. Tỷ lệ ApoA1/ ApoB biến đổi nhiều nhất, sau đó đến ApoA1 và cuối cùng là ApoB đối với nhóm TBMMN. Những đối tượng có hàm lượng ApoA1 < 110 mg/dl có nguy cơ bị TBMMN cao gấp 2,5 những người có hàm lượng ApoA1 > 110 mg/dl. Những đối tượng có ApoB > 90 mg/dl có nguy cơ bị TBMMN cao gấp 6,9 lần so với người có ApoB < 90 mg/dl. Những người có tỷ số ApoA1/ ApoB < 1,2 có nguy cơ bị TBMMN cao gấp 9,8 lần so với người có ApoA1/ApoB > 1,2. Kết luận: hàm lượng ApoA1 giảm, ApoB tăng và tỷ số ApoA1/ApoB giảm có ý nghĩa thống kê ở nhóm bệnh nhân bị TBMMN.

Xem chi tiết

Sự thay đổi nồng độ HBsAg huyết thanh trong dự báo đáp ứng virus ở bệnh nhân viêm gan B mạn tính đuợc điều trị bằng tenofovir

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 4

Tác giả: Nguyễn Thị Hoa, Trần Ngọc Ánh

Nghiên cứu nhằm đánh giá bước đầu sự thay đổi nồng độ HBsAg huyết thanh trong dự báo đáp ứng virus ở bệnh nhân viêm gan B mạn được điều trị bằng Tenofovir diproxil fumarate (TDF). 60 bệnh nhân viêm gan B mạn điều trị TDF 300 mg/ngày được xét nghiệm trước điều trị và tuần 12, 24 sau điều trị. Nồng độ HBV DNA huyết thanh được xác định bằng Realtime - PCR. Nồng độ HBsAg huyết thanh được định lượng theo Kit của hãng Roche. Kết quả cho thấy TDF giảm có ý nghĩa nồng độ HBsAg (trước điều trị: 4,79 log10IU/ml, tuần 12: 4,37 log10IU/ml, tuần 24: 4,13 log10IU/ml; không có sự khác biệt về mức giảm HBsAg ở nhóm có và không có đáp ứng về hóa sinh máu và chuyển đổi HBeAg. Nồng độ HBsAg giảm nhanh > 1log10UI/ml ở 13/60 bệnh nhân, giảm chậm < 1 log10UI/ml ở 42/60 bệnh nhân, không thay đổi ở 5/60 bệnh nhân. Nồng độ HBsAg thấp có ý nghĩa ở bệnh nhân có đáp ứng virus tại tuần 12 (3,74 log10UI/ml) và tuần 24 (3,61 log10UI/ml). Nồng độ HBsAg huyết thanh có thể được coi như một dấu ấn mới trong dự báo đáp ứng virus ở bệnh nhân viêm gan B mạn

Xem chi tiết

Viêm Gan Virut B Và D

Chủ biên: GS. TSKH. Bùi Đại

Nhà xuất bản: NXB Y Học

Năm xuất bản: 2002

Ngôn ngữ: Tiếng Việt

Giới thiệu

Cuốn sách đề cập những nội dung rất cơ bản, từ virut học tới bệnh học lâm sàng và điều trị đối với các thể bệnh viêm gan do 2 loại virut B và D gây ra.

Cuốn sách cũng cập nhật những thông tin có liên quan tới khía cạnh bệnh lý, điều trị dự phòng của 2 thể viêm gan, từ những nguồn y vǎn gần đây nhất của thế giới và khu vực như: Viêm gan B và D ở người nhiễm HIV; Ghép gan trong điều trị viêm gan virut mãn; Điều trị viêm gan B bằng Interferon,…
Với tính cơ bản nhưng cập nhật và với nội dung khá toàn diện, phong phú, cuốn sách chuyên khảo này sẽ giúp ích trong công tác chǎm sóc bảo vệ sức khoẻ trên cả lĩnh vực dự phòng và điều trị bệnh viêm gan do virut nói chung, viêm gan do virut B và D nói riêng.

Xem chi tiết

Tỷ lệ nhiễm virus viêm gan b, virus viêm gan c, đồng nhiễm virus viêm gan b/c và kiểu gen của virus viêm gan b thuộc khu vực biên giới việt - trung huyện bát xát tỉnh lao cai

Năm xuất bản: 2009

Số xuất bản: 5

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Nguyễn Văn Bàng

Mục tiêu: nghiên cứu tỷ lệ nhiễm HBV, HCV và đồng nhiễm HBV/HCV tại huyện Bát Xát, Lào Cai. Phân loại kiểu gen của HBV trên mẫu nghiên cứu nhằm góp phần xây dựng bản đồ kiểu gen của HBV tại Việt Nam. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: gồm 683 đối tượng từ năm dân tộc khác nhau. Xác định nhiễm HCV bằng ELISA, HBV bằng ELISA và Lumipulse - fort. Định lượng nồng độ HBV - DNA bằng real - time PCR, phân loại kiểu gen của HBV bằng cây phân loại sinh học ở 26 đối tượng. Kết quả: tỷ lệ HBsAg dương tính trong quần thể nghiên cứu 15,7%, cao nhất ở dân tộc Kinh 22,8%, thấp nhất ở dân tộc Giáy 13,5% và Tày 10,2%. Tỷ lệ nhiễm HCV 6,6%, thấp nhất ở dân tộc Kinh 0%, cao nhất ở dân tộc Mông 9,7%. Tỷ lệ đồng nhiễm HBV/HCV 1,3% và tỷ lệ IgG anti - HBc dương tính 82,1%. Tỷ lệ kiểu gen B 54% và kiểu gen C 46%. Kết luận: tỷ lệ HBsAg dương tính ở huyện Bát Xát, Lào Cai cao ở tất cả các dân tộc. Phần lớn dân cư huyện Bát Xát đều có tiền sử nhiễm HBV, hai kiểu gen cơ bản của HBV là kiểu gen B và kiểu gen C. Tỷ lệ nhiễm HCV ở mức độ trung bình và không đồng đều giữa các dân tộc.

Xem chi tiết

Số lượng lympho bào b máu ngoại vi và khả năng đáp ứng tạo kháng thể chống vacxin viêm gan b của người Katu

Năm xuất bản: 2004

Số xuất bản: 1

Tác giả: Văn Đình Hoa

Số lượng lympho bào B (CD19) và khả năng đáp ứng tạo kháng thể của các lympho bào B được hoạt hóa là hai thông số quan trọng để đánh giá khả năng đáp ứng miễn dịch thể dịch của cơ thể bình thường hoặc bị bệnh. Để góp phần nghiên cứu đặc điểm sinh học của các dân tộc ít người ở vùng cao, chúng tôi nghiên cứu khả năng đáp ứng tạo kháng thể chống vacxin viêm gan B và số lượng lympho bào B máu ngoại vi của người Katu sống ở huyện Nam Đông -Huế. Số lượng lympho bào B được xác định trên 22 người Katu bình thường bằng kỹ thuật miễn dịch huỳnh quang trực tiếp và 64 người Katu có HbsAg (-), kháng thể chống HbsAg (-) được đánh giá khả năng đáp ứng tạo kháng thể chống vaccin viêm gan B với kỹ thuật ELISA. Nhóm chứng là người Kinh có cùng tiêu chuẩn. Kết quả thu được: - Số lượng lympho bào B trong 1mm3 máu: 354,9+101,1; thấp hơn so với người Kinh cùng lứa tuổi, cùng nghề nghiệp với p<0,05. - Khả năng đáp ứng tạo kháng thể chống vacxin viêm gan B ở mức tốt: 84,4%; cao hơn người Kinh nhưng p>0,05.

Xem chi tiết

Một số đặc điểm lâm sàng và đặc điểm phân tử của virus viêm gan b trên bệnh nhân nhiễm virus viêm gan b mạn tính có đột biến A1899 trên vùng precore

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 2

Tác giả: Bùi Xuân Trường, Yasushi Seo, Yoshihiko Yano, Phạm Thị Thu Hồ, Trần Minh Phương, Nguyễn Trường Sơn, Nguyễn Công Long, Nguyễn Khánh Trạch

Một số đột biến trên vùng core-promoter/precore của virus viêm gan B (HBV) gây ức chế tổng hợp HBeAg và kích thích sự nhân lên của HBV. Mục tiêu: Đánh giá đặc điểm lâm sàng và phân tử của HBV ở bệnh nhân nhiễm HBV mạn tính có đột biến A1899. Đối tượng và phương pháp: Kiểu gen, nồng độ HBV-DNA, HBeAg và Anti-HBe trên 29 bệnh nhân nhiễm HBV có đột biến A1899 xác định bằng PCR-RFLP, Real-time PCR và ELISA. Các đột biến được phân tích bằng giải trình tự gen. Kết quả: Tỷ lệ ung thư gan (K gan): 10/29 (34,5%), xơ gan (XG): 15/29 (51,7%) cao hơn tỷ lệ viêm gan mạn (VGM): 4/29 (13,8%) (p < 0,001). Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh với HBeAg ở nhóm VGM (75%) cao hơn nhóm K gan (40%) và nhóm XG (53,3%), nhưng không có khác biệt (p > 0,05). Nồng độ enzyme ALT cao nhất ở nhóm VGM và thấp nhất ở nhóm K gan (p = 0,02), 8/10 (80%) bệnh nhân K gan có ALT bình thường. Nồng độ HBV-DNA ở nhóm K gan và XG cao hơn nhóm VGM (p = 0,024). Đột biến A1899 thường xuất hiện cùng một số đột biến khác: C/G1753 (37,9%), T1762A1764 (79,3%). Kết luận: Đột biến A1899 có thể đóng một vai trò sinh bệnh học ở bệnh nhân Việt nam nhiễm HBV mạn tính, tuy nhiên cần triển khai nghiên cứu ở qui mô lớn hơn để đánh giá. Từ khóa: HBV, đột biến A1899, Việt Nam

Xem chi tiết

Nghiên cứu kết quả điều trị adefovir dipivoxil trên các bệnh nhân viêm gan b mạn HBeAg (+)

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 2

Tác giả: Trần Văn Huy

Mục tiêu: Tìm hiểu tỷ lệ biến đổi men gan, chuyển đổi huyết thanh HBeAg và HBV DNA sau 24 tháng điều trị bằng adefovir dipivoxil. Đánh giá sơ bộ các tác dụng phụ của thuốc và tỷ lệ kháng thuốc kiểu hình. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu. Loại hình nghiên cứu: Nghiên cứu lâm sàng. Đối tượng: các bệnh nhân viêm gan B mạn điều trị ở BV Trường Đại học Y khoa Huế từ 1/10/2004 - 30/9/2006. Số bệnh nhân trong nhóm nghiên cứu: 36 người. Tiêu chuẩn chọn bệnh: HBsAg(+)2 lần cách nhau tối thiểu 6 tháng; IgM anti HBc ( - ); HBeAg (ELISA) (+); Hoạt tính ALT trên 2 lần bình thường; Chưa dùng thuốc kháng HBV. Kết quả: Tỷ lệ bình thường hóa enzym gan là 50% sau 6 tháng, 66,66% sau 12 tháng và 69,44% sau 24 tháng. Tỷ lệ mất HBeAg là 27,77% sau 12 tháng và là 52,77% sau 24 tháng. Tỷ lệ chuyển đổi huyết thanh HBeAg thành Anti HBe là 11,11% sau 12 tháng và 30,55% sau 24 tháng. Tỷ lệ HBV DNA âm tính sau 24 tháng là 50%. Tỷ lệ tác dụng phụ và tỷ lệ kháng thuốc kiểu hình là rất thấp. Kết luận: Adefovir dipivoxil tỏ ra là một điều trị hiệu quả và dung nạp tốt. Từ khóa: Tiêm gan B mạn, Adefoir dipivoxil

Xem chi tiết

Xác định sơ bộ giá trị phần trăm, tuyệt đối của tiểu quần thể lympho (T CD3, T CD4, T CD8, B, NK) ở nhóm người bình thường tại thành phố hồ chí Minh bằng máy FASCALIBUR

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Khiêm Hùng

Mục tiêu là xác định các giá trị bình thường của tiểu quần thể lympho, trên cơ sở đó làm số liệu tham chiếu cho bệnh nhân đến làm xét nghiệm tại viện Pasteur Thành phố H? Chí Minh và tiến hành so sánh các giá trị này với các giá trị của người Iran. Phương pháp áp dụng: lấy máu người bình thường (n=47) chống đông bằng EDTA. ủ máu với hai nhóm kháng thể của BD chứa trong hai ống khác nhau: CD3/ CD8/ CD45/ CD4 ; CD3/ CD16,56 / CD45/ CD19. Sau khi xử lý mẫu được cho qua máy FASC, phân tích, tính toán, thống kê. Cuối cùng xác định các giá trị T CD3, T CD4, T CD8, B, NK ở từng mẫu riêng biệt. Kết quả: T CD3: % (X = 68, SD: 7.94) . Tuyệt đối (X = 2412, SD: 691); T CD4: % (X = 35.7, SD: 6.2) . Tuyệt đối (X = 915, SD: 339); T CD8: % (X = 25.85, SD: 5.46) . Tuyệt đối (X = 626, SD: 245); B: % (X = 7.97, SD: 2.79). Tuyệt đối (X = 194, SD: 93); NK: % (X = 20.1, SD: 7.18) . Tuyệt đối (X = 477, SD: 203); Tỉ lệ T CD4/ T CD8: X =1.53, SD: 0.46. Kết luận: Khi so sánh với các giá trị của quần thể Iran, thì chỉ có tỉ lệ % NK của nhóm nghiên cứu là cao còn những giá trị còn lại đều thấp hơn.

Xem chi tiết

Nghiên cứu ứng dụng ống soi mềm trong vi phẫu thuật nang dây thanh

Chuyên ngành: TAI MŨI HỌNG

Tên hướng dẫn: PGS.TS. Lương Thị Minh Hương

Tên tác giả: LÊ PHƯƠNG TÌNH

Nang dây thanh là một loại tổn thương lành tính ở lớp mô đệm, dưới niêm mạc dây thanh. Đây là bệnh hay gặp, chiếm tỷ lệ tương đối cao trong các tổn thương lành tính dây thanh. Theo một số nghiên cứu thì chiếm khoảng 14 - 16% các khối tổn thương lành tính dây thanh [1], [2].
Nang dây thanh gây ra khàn tiếng, biến đổi âm sắc, nói chóng mệt, gây khó khăn trong giao tiếp hoặc hoạt động nghề nghiệp. Nang dây thanh có thể gặp cả hai giới, nguyên nhân chính là do hoạt động của dây thanh một cách quá mức, do viêm nhiễm vùng mũi họng hay do trào ngược họng thanh quản [3], [4], [5]…
Ngày nay việc chẩn đoán nang dây thanh không khó nhờ có nhiều thiết bị được ứng d ng trong thăm khám và chẩn đoán bệnh lý nang dây thanh như nội soi ống cứng, nội soi ống mềm….
Soi hoạt nghiệm thanh quản đã được ứng d ng ở bệnh viện Tai Mũi Họng trung ương để chẩn đoán bệnh lý dây thanh. Đây là phương pháp đánh giá sự rung động của dây thanh b ng nội soi dưới ánh sáng nhấp nháy strobe . Soi hoạt nghiệm cho thấy hình ảnh một cách r nét hơn về sóng niêm mạc, tính đối xứng và sự khép thanh môn mà dưới nội soi ánh sáng thường không quan sát được.
Việc điều trị nang dây thanh bao gồm điều trị các ổ viêm nhiễm kế cận, điều trị chống trào ngược họng- thanh quản và luyện giọng.
Phẫu thuật cắt bỏ nang là phương pháp điều trị thường được áp d ng đối với nang dây thanh, có nhiều phương pháp để phẫu thuật trong đó có thể phẫu thuật qua ống soi mềm. Ống soi mềm có kích thước nhỏ, mềm nên có thể đưa qua đường mũi, ít gây khó chịu cho bệnh nhân, dễ sử d ng do có thể uốn cong để đi vào các vùng mà ống soi cứng khó có thể soi được.

Để đánh giá hiệu quả của ống nội soi mềm trong phẫu thuật nang dây thanh chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên ng dụng ống soi mềm trong vi phẫ th ật nang dây thanh”.
Mục iêu:
1. Đối hiế một số i m âm s ng, nội soi v nội soi ho t nghi m trong nang dây thanh.
2. Đ nh gi ết sử dụng ống mềm vi phẫ th ật nang dây thanh q a nội soi v nội soi ho t nghi m.

Xem chi tiết