Xác định sơ bộ giá trị phần trăm, tuyệt đối của tiểu quần thể lympho (T CD3, T CD4, T CD8, B, NK) ở nhóm người bình thường tại thành phố hồ chí Minh bằng máy FASCALIBUR

Năm xuất bản: 2003

Số xuất bản: 6

Tác giả: Trần Khiêm Hùng

Mục tiêu là xác định các giá trị bình thường của tiểu quần thể lympho, trên cơ sở đó làm số liệu tham chiếu cho bệnh nhân đến làm xét nghiệm tại viện Pasteur Thành phố H? Chí Minh và tiến hành so sánh các giá trị này với các giá trị của người Iran. Phương pháp áp dụng: lấy máu người bình thường (n=47) chống đông bằng EDTA. ủ máu với hai nhóm kháng thể của BD chứa trong hai ống khác nhau: CD3/ CD8/ CD45/ CD4 ; CD3/ CD16,56 / CD45/ CD19. Sau khi xử lý mẫu được cho qua máy FASC, phân tích, tính toán, thống kê. Cuối cùng xác định các giá trị T CD3, T CD4, T CD8, B, NK ở từng mẫu riêng biệt. Kết quả: T CD3: % (X = 68, SD: 7.94) . Tuyệt đối (X = 2412, SD: 691); T CD4: % (X = 35.7, SD: 6.2) . Tuyệt đối (X = 915, SD: 339); T CD8: % (X = 25.85, SD: 5.46) . Tuyệt đối (X = 626, SD: 245); B: % (X = 7.97, SD: 2.79). Tuyệt đối (X = 194, SD: 93); NK: % (X = 20.1, SD: 7.18) . Tuyệt đối (X = 477, SD: 203); Tỉ lệ T CD4/ T CD8: X =1.53, SD: 0.46. Kết luận: Khi so sánh với các giá trị của quần thể Iran, thì chỉ có tỉ lệ % NK của nhóm nghiên cứu là cao còn những giá trị còn lại đều thấp hơn.

Xem chi tiết

Nguy cơ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật cho cư dân ở xã Hoàng Kim - Mê Linh - Hà Nội năm 2009-2010

Năm xuất bản: 2012

Số xuất bản: 2.1

Tác giả: Trần Như Nguyên, Nguyễn Thị Hoa, Nguyễn Hoàng Thanh

Nghiên cứu mô tả ngang 150 hộ dân xã Hoàng Kim - Mê Linh - Hà Nội. năm 2009 - 2010 thấy: 1.) Hành vi nguy cơ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật chiếm tỷ lệ cao đáng kể: 72,7 % có cất giữ tại hộ gia đình nhưng không hộ nào có nơi để riêng, cất giữ tùy tiện trong vườn 26%; chuồng gia súc 14,67%; nhà vệ sinh, nhà tắm 12%; nhà chính 6,67; trong thùng không khoá 11,71%. Hoà thuốc bằng tay không 21,33%. Tỷ lệ pha thuốc đúng nồng độ chỉ có 57,33%; pha đặc hơn 2,67%.. Chỉ66,7% luôn luôn sử dụng bảo hộ lao động khi phun. Đến 65,3% tự đọc trên bao bì để sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật. 2.) Ảnh hưởng của hóa chất bảo vệ thực vật đến sức khoẻ người lao động là rõ rệt: Mệt mỏi 80,67%, nhức đầu 80,00%, hoa mắt chóng mặt 59,33%, rối loạn giấc ngủ 3,33%. Khô họng, đau họng 1,33%. Nôn, buồn nôn 2%, đau bụng 0,67%. Ngứa da 2%, nhức mắt 1,33%, tức ngực 0,67%. Khuyến nghị: Tập huấn nâng cao kiến thức và thực hành kết hợp với giám sát nhằm giảm thiểu hành vi nguy cơ nhiễm hóa chất bảo vệ thực vật cho người sử dụng, hóa chất bảo vệ thực vật.

Xem chi tiết

TỶ LỆ HIỆN MẮC KHUYẾT TẬT TẠI CHÍ LINH NĂM 2007

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 5

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thủy, Đặng Sỹ Duy, Hoàng Văn Huỳnh, Quách Ngọc Quyên, Micheal Palmer

Điều tra tỷ lệ khuyết tật đang ngày càng được quan tâm và đã có nhiều đóng góp cho việc cải thiện tình hình cung cấp dịch vụ cho người khuyết tật. Mục tiêu: mô tả tỷ lệ khuyết tật tại các điểm dân cư trong Hệ thống theo dõi Dân số và Dịch tễ học huyện Chí Linh (CHILILAB), tỉnh Hải Dương năm 2007. Phương pháp nghiên cứu: Điều tra cắt ngang ba thị trấn và bốn xã của CHILILAB với dân số là 65.438 người, sử dụng bộ câu hỏi phát hiện người khuyết tật của Tổ chức Y tế Thế giới. Kết quả và kết luận: tỷ lệ khuyết tật tại Chí Linh là 28,2% dân số trong đó có sự khác biệt rõ ràng giữa vùng thị trấn (29,7%) và nông thôn (26,4%). Tỷ lệ khuyết tật tăng lên theo tuổi: người ≤ 60 tuổi có tỷ lệ khuyết tật là 81,8%; 40 - 59 tuổi là 58,2%; <40 tuổi là 8 - 9%. Nghiên cứu cũng cho thấy tỷ lệ khuyết tật cao ở vùng nông thôn, ở nữ giới, ở hộ nghèo, ở người mù chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết.

Xem chi tiết

Định hướng nghiên cứu sinh học phân tử trong lĩnh vực ký sinh trùng

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 10.2

Tác giả: Lê Thanh Hòa

Ký sinh trùng được coi là tập hợp đa dạng nhất, gây bệnh ở nhiều đối tượng và việc phân loại nhóm, loài, chủng đặc biệt đối với một số loài anh em cần được phối hợp các phương pháp khác nhau, trước hết là áp dụng định loại sinh học phân tử. Trong bài viết này, chúng tôi giới thiệu những khái niệm sinh học cơ bản về chủng loại ký sinh trùng, các chỉ thị sinh học phân tử, một số phương pháp thông thường được sử dụng và những định hướng có tính chiến lược trong nghiên cứu sinh học phân tử ký sinh trùng. Tại Việt Nam, với những áp dụng sinh học phân tử nghiên cứu có kết quả trong gần 10 năm qua, hy vọng chúng ta cũng sẽ đẩy mạnh hơn những hướng cần thiết về dịch tễ học phân tử, bệnh học phân tử, xét nghiệm phân tử và những vấn đề phòng chống.

Xem chi tiết

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI KHUYẾT TẬT HUYỆN CHÍ LINH

Năm xuất bản: 2008

Số xuất bản: 6

Tác giả: Nguyễn Thị Minh Thủy, Quách Ngọc Quyên, Hoàng Văn Huỳnh, Đặng Sỹ Duy, Micheal Palmer

Người khuyết tật thường là đối tượng khó khăn nhất trong bất kỳ xã hội nào và họ thường là người nghèo, thất học và không có việc làm. Mục tiêu: mô tả một số đặc điểm của người khuyết tật huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: điều tra cắt ngang phỏng vấn 18.473 người khuyết tật tại một số xã và thị trấn thuộc huyện Chí Linh, tỉnh Hải Dương. Kết quả và kết luận: gần 3/4 người khuyết tật có độ tuổi trên 45; Nữ khuyết tật gặp nhiều hơn nam và tỷ xuất nam/nữ khuyết tật là 1:1,2; Tuyệt đại đa số người khuyết tật tại Chí Linh là người Kinh và 10,8% người khuyết tật tại đây thuộc hộ gia đình nghèo; Trung bình cứ 10 người khuyết tật thì có một người mù chữ hoặc chỉ biết đọc biết viết và gần 2/3 khuyết tật có trình độ cấp II trở xuống; Khó khăn về nhìn là dạng tật thường gặp nhất chiếm tỷ lệ 81,9% và khoảng 3/4 người khuyết tật chỉ mắc một tật. Khuyến nghị: Cần nghiên cứu giảm tỷ lệ khuyết tật ở người trên 45 tuổi, giảm tỷ lệ mắc khuyết tật về nhìn và tăng cường tiếp cận dịch vụ giáo dục cho người khuyết tật.

Xem chi tiết

Sự thay đổi và số lượng các dưới nhóm t lympho máu ngoại vi ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng theo giai đoạn bệnh

Năm xuất bản: 2007

Số xuất bản: 4

Tác giả: Phan Thị Phi Phi, Đỗ Hòa Bình

Với mục đích tìm hiểu giá trị của yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng (UTVMH), chúng tôi tiến hành nghiên cứu này với Mục tiêu: Xác định sự thay đổi số lượng và tỷ lệ của các dưới nhóm lympho T máu ngoại vi ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng và ý nghĩa của sự thay đổi này theo giai đoạn bệnh. Đối tượng và Phương pháp: 37 bệnh nhân ung thư vòm mũi họng đã được chẩn đoán xác định bằng phương pháp miễn dịch huỳnh quang trực tiếp đo tế bào dòng chảy (Flowcytometry ) trên hệ máy FASC count, kit của hãng Becton - Dickinson (USA). Kết quả: Kết quả thu được cho thấy có sự thay đổi rõ rệt về số lượng và tỷ lệ các dưới nhóm lympho ở các giai đoạn bệnh so với người khoẻ dùng làm chứng. Kết luận: Sự thay đổi các dưới nhóm có thể xem như một yếu tố tiên lượng ở bệnh nhân ung thư vòm mũi họng.

Xem chi tiết

Fingolimod giảm xơ da trên chuột xơ cứng da bởi tăng tế bào T điều hòa và giảm bộc lộ cytokin Th2

Năm xuất bản: 2014

Số xuất bản: 4

Tác giả: Lê Hữu Doanh, Trần Hậu Khang

Tăng cytokin Th2 đóng vai trò quan trọng trong quá trình tăng tổng hợp collagen từ tế bào xơ non. Nghiên cứu nhằm mục tiêu đánh giá hiệu quả của thuốc điều hòa miễn dịch Fingolimod (FTY) trong điều trị biểu hiện xơ da trên chuột xơ cứng da (TSK/+). Kết quả nghiên cứu chỉ ra rằng Fingolimod giảm sự phát triển của biểu hiện xơ cứng ở chuột TSK/+ bằng cách tăng tế bào lympho T điều hòa, tăng tế bào T CD4 sản xuất Interferon-g. Đồng thời, trên da, Fingolimod làm giảm bộc lộ yếu tố phát triển chuyển dạng (Transforming growth factor beta - TGF - β1), Th2 cytokin (interleukin – 6, interleukin - 13). Kết quả này đã đưa ra bằng chứng quan trọng cho việc có thể sử dụng Fingolimod trong điều trị các biểu hiện xơ cứng da trên thực nghiệm và bệnh xơ cứng bì hệ thống ở người.

Xem chi tiết